Bản án 44/2019/HSST ngày 24/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 44/2019/HSST NGÀY 24/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 24/4/2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2019/HSST ngày 29/3/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HS ngày 08/4/2019 đối với bị cáo:

Vũ Văn Q, tên gọi khác: không, giới tính: nam, sinh ngày 09/9/1978 tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; thường trú và chỗ ở tại tổ 1, khu Đá Bạc, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 01/12; nghề nghiệp: lái xe; bố là ông Vũ Văn X, sinh năm 1955 và mẹ là bà Lê Thị H, sinh năm 1955, cùng trú tại phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án tiền sự: không. Bị cáo tự thú ngày 06/01/2019, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, trú tại khu Đá Bạc, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 05 giờ ngày 06/01/2019, tại tổ 1, khu Đá Bạc, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 67,9kg pháo nổ để sử dụng.

Trong quá trình điều tra bị cáo Q khai: Cuối năm 2017 bị cáo có mua pháo của một người đàn ông lạ mặt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, sau đó bị cáo đóng kín vào các bao dứa và đem về nhà, bị cáo định dùng trong dịp tết năm 2018 nhưng thấy lực lượng chức năng làm gắt gao nên không đem ra dùng được.

Đến gần đây bị cáo định cho đi nhưng sợ cho người quen sẽ liên lụy đến họ, đến tối ngày 05/01/2019 trong khi đi bộ ở chân cầu Đá Bạc thì bị cáo gặp một nam thanh niên không quen biết, người này hỏi bị cáo có biết ở đâu bán pháo không, bị cáo bảo ở nhà có, vứt đi thì phí, nếu lấy thì bị cáo cho. Đúng lúc ấy có lực lượng chức năng đi tuần tra đến, sợ bị phát hiện nên bị cáo bỏ về nhà, trong lúc đi lang thang bị cáo nghĩ việc mình tàng trữ pháo là vi phạm pháp luật, nếu mình biết tự giác khai báo thì sẽ được nhẹ tội đi. Vì vậy bị cáo đã đến cơ quan chức năng làm đơn tự thú.

Ti phiên tòa bị cáo khai: Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí là đúng người đúng tội, không oan sai. Việc tàng trữ pháo trong nhà là do một mình bị cáo làm, bị cáo không cho ai trong gia đình được biết việc ấy, trong quá trình điều tra cơ quan chức năng đã thu giữ 67,9kg pháo là của bị cáo, ngoài ra không thu giữ gì khác.

Bị cáo cảm thấy rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ngưi chứng kiến là chị Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa khai: Sáng ngày 06/01/2019 chị đang ở nhà thì có lực lượng chức năng đến thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với gia đình, chị được nghe giải thích là vì chồng có liên quan đến việc tàng trữ pháo nổ, sau đó cơ quan chức năng phát hiện thu giữ tại nhà kho gần cổng nhà có nhiều bao tải dứa phủ bạt xanh, bên trong có nhiều pháo ở các dạng khác nhau. Toàn bộ số pháo này anh Q cất giấu lúc nào chị không hề hay biết.

Ti bản kết luận giám định số 147 ngày 07/01/2019 của Viện Khoa học hình sự Bộ công an kết luận:

+ 700 quả cuốn bằng giấy hình tròn màu vàng nhạt, đường kính 04cm có phần đuôi cuốn giấy màu vàng, dây dẫn màu xanh đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), khối lượng là 26kg;

+ 12 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), khối lượng là 17,8kg;

+ Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành tràng (11 tràng) đều là pháo nổ, khối lượng 9,7kg;

+ Các vật hình trụ, có vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành tràng (02 tràng) đều là pháo nổ, khối lượng là 5,7kg;

+ 10 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), khối lượng là 8,7kg.

Tổng khối lượng mẫu vật gửi đi giám định là 67,9kg, tất cả đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất.

Ti cáo trạng số 50 ngày 28/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm g, khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” và đề nghị:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm r, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn Q từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 06/01/2019; Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Q nộp 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

- Về vật chứng: Số pháo nổ hoàn lại sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Uông Bí đã tiến hành tiêu hủy theo quy định, nên không đề cập xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 06/01/2019, tại khu Đá Bạc, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 67,9kg pháo nổ để sử dụng.

Hành vi nêu trên của Vũ Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

g) pháo nổ từ 40 kilogam đến dưới 120 kilogam.”

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn Q đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà nhà nước cấm lưu thông. Trong vụ án này bị cáo Q là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo khai đi mua pháo nổ để về sử dụng trong dịp Tết, mặc dù trong những năm qua Đảng và Nhà nước vẫn thường xuyên tổ chức tuyên truyền về việc nghiêm cấm tàng trữ pháo nổ trong quần chúng nhân dân, đặc biệt tăng cường cao điểm trong các dịp lễ và Tết cổ truyền của đất nước, bị cáo Q là người thành niên, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện, vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tập trung cải tạo tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy trong vụ án này bị cáo đã có những thay đổi tích cực trong nhận thức, tối ngày 05/01/2019 sau khi thấy cơ quan chức năng bị cáo bỏ chạy về nhà, trong lúc đi về nhà bị cáo đã biết suy nghĩ điều hay lẽ phải, biết đấu tranh tâm lý và chọn cho mình con đường đúng đắn là đi đến cơ quan chức năng tự thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, để bị cáo thấy được chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 191, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hi đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung là cần thiết nên quyết định phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 67,9kg pháo nổ, đã được gửi đi giám định và cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định pháp luật sau khi được hoàn lại, vì vậy không đề cập.

[5] Hai đối tượng bán pháo cho bị cáo và đối tượng xin pháo của bị cáo, quá trình điều tra không làm rõ được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

[6] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[7] Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: điểm g khoản 2 và khoản 4 Điều 191; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố: Vũ Văn Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Vũ Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 06/01/2019. Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn Q số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HSST ngày 24/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:44/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về