Bản án 45/2017/HSST ngày 23/06/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH 

BẢN ÁN 45/2017/HSST NGÀY 23/06/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 23 tháng 6 năm 2017 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Giao An, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2017/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2017/HSST-QĐ ngày 09 tháng 6 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn N; sinh ngày 19 tháng 5 năm 1987; nơi  sinh: Xóm 4, xã L, huyện G, tỉnh N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú: Xóm 4, xã L, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Đỗ Văn T và bà: Nguyễn Thị C; có vợ là: Nguyễn Thị T; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16-12-2011, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 16-6-2013; bị cáo bị tạm giam tính từ ngày tạm giữ 02-03-2017 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Nam Định.

Người làm chứng:

1.  Ông Vũ Ngọc Q; sinh năm 1961;

Địa chỉ: Thôn L, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

2.  Anh Trịnh Văn Chính; sinh năm 1989;

Địa chỉ: Xóm 16, xã T, huyện G, tỉnh N.

3.  Ông Định Thắng L; sinh năm 1959;

Địa chỉ: Xóm 02, xã Giao A, huyện G, tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo: Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02-3-2017, Vũ Ngọc Q (là đối tượng nghiện chất ma túy) đang đứng ở khu vực ngã tư đường 489 thuộc xóm 2, xã A, huyện G, tỉnh N thì gặp Đỗ Văn N đi bộ đến. Q nhờ N mua hộ 01 gói heroin với giá 200.000 đồng và hứa trả cho N 100.000 đồng tiền công. N đồng ý nhận 200.000 đồng  Q đưa cho và bảo Q đứng đó đợi. Khoảng 30 phút sau Ngân quay lại đưa cho Q 01 gói heroin. Q nhận gói heroin và trả cho N 100.000 đồng  tiền công mua hộ ma túy thì bị tổ công tác  Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Vũ Ngọc Q 01 gói nhỏ gói bằng giấy báo, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong ký hiệu M. Q khai đó là gói heroin vừa nhờ N mua hộ với giá 200.000 đồng. Thu giữ của Đỗ Văn N 100.000 đồng.Tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Giao An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng  và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

Ngày 03-3-2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã đưa 01 gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Vũ Ngọc Q đi giám định.

Tại bản kết luận số 192/GĐKTHS ngày 03-3-2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy. Loại chất ma túy: Heroine. Trọng lượng mẫu M: 0,012 gam”.

Bản cáo trạng số 42/CT - VKS ngày 22-5-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy luận tội sau khi xem xét, phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luậthình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo N từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung:  Bị cáo là người nghiện ma túy, con còn nhỏ kinh tế gia đình khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, khoản 2 điều76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định. Tịch thu 100.000 đồng là tiền N có được do bán ma túy cho Q  mà có sung công quỹ Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, kính mong  Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình, nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Văn N đã có hành vi bán trái phép cho Vũ Ngọc Q 01 gói nhỏ được gói bằng giấy báo bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng lấy 100.000 đồng. Bản kết luận giám định số 192/GĐKTHS ngày 03-3-2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định  đã kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy. Loại chất ma túy: Heroine. Trọng lượng mẫu M: 0,012 gam”. Do đó bị cáo đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, nay lại dấn thân vào con đường phạm tội. Mặc dù bị cáo nhận thức ma túy là hiểm họa cho gia đình và xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng và phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, cần phải xử phạt bị cáo bằng pháp luật hình sự như vậy mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai  báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Nên bị cáođược hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn,  buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo  sau khi cải tạo  trở về cộng đồng là công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ  5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,  cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn, con còn nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Phong bì hoàn trả mẫu vật  sau giám định sẽ áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng  thu giữ của N do bán trái phép 01 gói heroine cho Q mà có là tiền giao dịch bất chính,  sẽ áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với hành vi mua 0,012 gam heroine để sử dụng cho bản thân của Vũ Ngọc Q xét thấy Q là đối tượng nghiện chất ma túy, lượng heroin chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự  nên Công an huyện Giao Thủy đã xử lý bằng biện pháp hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số heroine N bán cho Q, N khai mua ở chợ xã Giao Tiến huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định của một nam thanh niên tên Quý, khoảng 35 tuổi không biết địa chỉ. Quá trình điều tra chưa xác định được người bán heroine cho N nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy tách ra để tiếp tục điều tra và có biện pháp xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Đỗ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02-3-2017.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự: Tịch thu số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 05222 ngày 22 - 5 - 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng  khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả  mẫu vật sau giám định số 192/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh nam Định (được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22-5-2017 giữa Công an huyện Giao Thủy và Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của  Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Văn Ngân phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyênán.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


97
  • Tên bản án:
    Bản án 45/2017/HSST ngày 23/06/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    45/2017/HSST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    23/06/2017
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2017/HSST ngày 23/06/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:45/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/06/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về