Bản án 45/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 45/2017/HSST NGÀY 27/07/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/HSST ngày 03/7/2017 đối với bị cáo: Họ và tên:

Lùng Văn Th (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1983; tại: Huyện M, tỉnh Điện Biên; Trú tại: Bản Q, xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Lùng Văn S (Đã chết) và bà Lò Thị Ch (SN: 1945); Có vợ là Chảo Khé K (SN: 1988) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 12/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Đại diện hợp pháp: Anh Vàng Văn H (SN: 1982) - Phó Chủ tịch UBND xãQ – Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lùng Văn Th bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, đất canh tác cũ đã bạc màu nên Lùng Văn Th đi tìm đất để làm nương mới. Lùng Văn Th chọn một khu rừng thuộc bản Q, xã Q. Vào khoảng 08 giờ ngày 04/3/2017 Lùng Văn Th đi bộ một mình từ nhà mang theo 02 con dao phát (dao quắm) đi đến khu rừng đã chọn trước đó. Khoảng 09 giờ cùng ngày Th tới nơi và bắt đầu dùng dao phát để phát những cây cỏ bụi và chặt hạ những cây gỗ nhỏ đến ngày 05/3/2017 thì xong. Đến ngày 06/3/2017 Th mang 01 máy cưa cầm tay đến khu rừng đang phát và dùng máy cưa hạ những cây gỗ to. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì xong. Quá trình chặt phá, Th đã dùng 02 con dao phát và 01 cưa máy cầm tay chặt phá diện tích rừng 3.724 m2. Mức độ thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng của Lùng Văn Th là 100%.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 17/3/2017 đã xác định: Tổng diện tích rừng bị phá là 3.724 m2 trạng thái rừng IIa, là rừng phòng hộ có vị trí tại khoảnh 02, tiểu khu 425 thuộc diện tích rừng giao cho UBND xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên quản lý, bảo vệ. Tổng sản lượng rừng mà Lùng Văn Th hủy hoại là: 55,22 m3, trong đó: Sản lượng gỗ: 23,39 m3, Sản lượng củi: 31,83 m3.

Tại kết luận định giá tài sản số 22 ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mường Nhé, xác định tổng giá trị thiệt hạị do Lùng Văn Th gây ra là 55.710.000đ (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm mười nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 34/QĐ-VKS-HS ngày 03 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố Lùng Văn Th về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999, Nghị quyết 41 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 02 dao phát và tịch thu sung Quỹ Nhà nước 01 cưa máy cầm tay là vật chứng của vụ án. Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng, buộc bị cáo Lùng Văn Th phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 55.710.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước. Bị cáo Lùng Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự.

XÉT THẤY

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 04/3/2017 đến ngày 06/3/2017, Lùng Văn Th đã dùng 02 dao phát và 01 cưa máy cầm tay để chặt phá diện tích rừng 3.724 m2 , là rừng phòng hộ, có vị trí tại khoảnh 02, tiểu khu 425 thuộc diện tích rừng đã giao cho UBND xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên quản lý, bảo vệ. Tổng giá trị thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng mà Th gây ra là 55.710.000đ (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm mười nghìn đồng) là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi phá rừng trái phép nhằm mục đích làm nương của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm nương bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại lớn về môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về rừng là 5.000.000đ cho Nhà nước để khắc phục một phần hậu quả. Bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ giải phóng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghịHội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41 ngày 20 tháng 6 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo theo khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm là nhẹ hơn khung hình phạt từ 7 đến 15 năm theo khoản 3 Điều 189 LHHS năm 1999. Do đó cần áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn, là hộ nghèo, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 điều 189 BLHS đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng do đó phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc máy cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365 đã qua sử dụng cần tịch thu sung Quỹ Nhà nước, đối với 02 con dao phát đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo (Theo Giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã Q, huyện M, tỉnh Điện Biên cấp năm 2017) và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lùng Văn Th phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều  33  Bộ  luật  Hình  sự năm 1999;  Điểm h  khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 sửa đổi. Xử phạt bị cáo Lùng Văn Th 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/3/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 584,585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng: Buộc bị cáo Lùng Văn Th phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 55.710.000đ. Được trừ đi số tiền 5.000.000đ đã nộp, còn phải bồi thường tiếp 50.710.000đồng (năm mươi triệu bảy trăm mười nghìn đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung Quỹ Nhà nước 01 cưa máy cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365, máy cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao phát đã niêm phong là vật chứng vụ án Lùng Văn Th theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2017 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Lùng Văn Th.

Án xử công khai có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2017). "Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


226
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về