Bản án 45/2018/DS-ST ngày 21/08/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 45/2018/DS-ST NGÀY 21/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2018/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2018/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T.

Địa chỉ: 89 Láng Hạ, phường L, quận Đ, TP. Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T. Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng T (theo văn bản ủy quyền số 29/2017/UQ-CT ngày 22/6/2017).

Ông Lê Hiền T ủy quyền lại cho ông Hà Văn T, sinh năm 1993

Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ liên lạc: 2277 Trần Văn Trà, ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Theo văn bản ủy quyền số 07/2018/UQ-GĐK-TDTD ngày 01/5/2018)

- Bị đơn: Bà Đào Kim L, sinh năm 1974

Địa chỉ: ấp 3, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Anh T có mặt. Bà L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2018 và các lời khai tại tòa, nguyên đơn Ngân hàng T do ông Hà Văn T đại diện trình bày:

Ngày 23/3/2015, Ngân hàng T có ký hợp đồng tín dụng số 20150323-101107-0001 với bà Đào Kim L. Nội dung hợp đồng là Ngân hàng cấp tín dụng cho bà Lvới số tiền là 32.283.926 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà L có trách nhiệm trả góp cho Ngân hàng trong 36 tháng, mỗi tháng trả 1.649.000đ, tháng cuối cùng trả 2.514.000đ. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lsố tiền vay nêu trên vào ngày 01/5/2018 nên việc trả tiền của bà L bắt đầu tính từ ngày 01/5/2015 và trả vào ngày 01 hàng tháng.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng vay số tiền nêu trên, bà L đã trả nợ cho Ngân hàng 20 tháng với tổng số tiền là 32.980.000đ, trong đó tiền gốc là 20.053.520 đồng và tiền lãi là 7.195.480 đồng. Từ ngày 23/6/2017 cho đến nay bà Lkhông tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng. Do đó,Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu bà Đào Kim L có trách nhiệm thanh toán số tiềngốc còn lại là 20.053.520 đồng và tiền lãi là 7.195.480 đồng. Tổng cộng gốc lãi là 27.249.000đ và lãi chậm thanh toán phát sinh kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Bị đơn bà Đào Kim L đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo giao nộp chứng cứ và thông báo về phiên hòa giải nhưng bà Lkhông đến Tòa làm việc, hòa giải và cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân duyện Nhơn Trạch:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền vay tổng cộng gốc lãi là 27.249.000đ và lãi chậm thanh toán phát sinh kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Bị đơn bà Đào Kim L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Đào Kim L.

 [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng T khởi yêu cầu bà Đào Kim L thanh toán số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 23/3/2015, Ngân hàng T ký hợp đồng tín dụng số 20150323-101107-0001 với bà Đào Kim L. Nội dung hợp đồng là Ngân hàng cấp tín dụng cho bà Lvới số tiền là 32.283.926 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Lcó trách nhiệm trả góp cho Ngân hàng trong 36 tháng, mỗi tháng trả 1.649.000đ, tháng cuối cùng trả 2.514.000đ. Việc trả tiền bắt đầu từ ngày 01/5/2015 và trả vào ngày 01 hàng tháng. Sau khi ký hợp đồng tín dụng vay số tiền nêu trên, bà Lđã trả nợ cho Ngân hàng 20 tháng với tổng số tiền là 32.980.000đ, trong đó số tiền gốc là: 12.231.406 đồng. Từ ngày 23/6/2017 cho đến nay bà L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng là vi phạm thỏa thuận tại Điều 7 của Hợp đồng tín dụng ngày 23/3/2015.

Căn cứ theo kế hoạch và lịch sử trả nợ của bà Đào Kim L với Ngân hàng T thì xác định bà Lcòn nợ của Ngân hàng T số tiền gốc 20.053.520 đồng và tiền lãi là 7.195.480 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T đối với bị đơn bà Đào Kim L, buộc bà L phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng T số tiền gốc 20.053.520 đồng và tiền lãi là 7.195.480 đồng.

 [4] Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay, áp dụng Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để tính lãi chậm trả.

 [5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đào Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng T là 27.249.000 đồng x 5% = 1.362.450 đồng.

 [6] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, 474 Bộ luật dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dận tối cao để tính lãi chậm trả.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T đối với bị đơn bà Đào Kim L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử buộc bà Đào Kim L phải thanh toán cho Ngân hàng T tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 27.249.000 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đào Kim L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Bà Đào Kim L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.362.450 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 681.225 đồng theo biên lai số 003601 ngày 26/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Ngân hàng T được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà L được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về