Bản án 45/2018/HSST ngày 22/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 45/2018/HSST NGÀY 22/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2018/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo: 

L Th H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1999 tại Quảng Nam; nơi cư trú: Khối 1, thị trấn K, huyện Ph, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L V (đã chết) và bà Tr Th H, sinh năm 1978; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27 tháng 7 năm 2012 Ủy ban nhân dân huyện Ph, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 976/QĐ-UBND đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 27 tháng 01 năm 2014; Ngày 30 tháng 5 năm 2014 Công an huyện Ph, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 45/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 18 tháng 9 năm 2014 Ủy ban nhân dân huyện Kh, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 47/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 06 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 16 tháng 10 năm 2014 Công an huyện Ph S, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 59/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 22 tháng 4 năm 2015 bị Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số 38/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 23 tháng 4 năm 2015 Công an huyện Ph, tỉnh Quảng Nam bắt đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 15 tháng 01 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Ph, tỉnh Quảng Nam. Chấp hành xong ngày 23 tháng 3 năm 2017. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01 tháng 11 năm 2017 đến nay, có mặt. 

- Bị hại: Ông Tr V Kh, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Xóm 1, xã Th, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: Phòng số 02, đường N, khu dân cư M, khu phố B, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Ng V Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 1, xã Th, huyện D, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31 tháng 10 năm 2017, L Th H đi bộ qua khu vực khu dân cư Minh Tuấn thuộc khu phố Bình Đáng, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ ngày 01 tháng 11 năm 2017 H đi ngang qua một công trình đang xây dựng tại số 5A17, đường N15, khu dân cư Minh Tuấn thì nhìn thấy một người thanh niên và một cô gái đang nằm ngủ. Khi H đi vào thì cả hai tỉnh dậy truy hô nên H bỏ chạy và làm rơi một điện thoại di động hiệu OPPO F3 của H. Sau đó H tiếp tục đi bộ ngang qua cơ sở trọ tại địa chỉ số 5/5A14, đường N13, khu dân cư Minh Tuấn thì phát hiện phòng số 2 không khóa cửa nên H vào và trèo lên gác thấy ông Tr V Kh đang nằm ngủ, trên tủ sắt có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S; 01 điện thoại hiệu Sony M4; số tiền 1.000.000 đồng và 75.000 đồng trong 01 ví da nên H đã lấy những tài sản trên rồi bỏ đi ra ngoài. Khi H quay lại khu vực làm rơi điện thoại để tìm kiếm thì bị người dân và lực lượng Công an phường Bình Hòa phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản ngày 10 tháng 11 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu vàng có trị giá là 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Sony M4 màu đen có trị giá là 1.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 4.800.000 đồng.

Bản cáo trạng số 44/QĐ-KSĐT ngày 13 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo L Th H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa: Bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Lê Thế Hùng mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo L Th H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 03 giờ ngày 01 tháng 11 năm 2017, H đi đến một công trình đang xây dựng tại số 5A17, đường N15, khu dân cư Minh Tuấn thuộc khu phố Bình Đáng, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản trộm cắp thì nhìn thấy 02 người thanh niên đang ngủ trong lán tỉnh dậy truy hô nên H bỏ chạy làm rơi 01 điện thoại di động hiệu OPPO F3. Sau đó, H tiếp tục đi đến cơ sở trọ tại địa chỉ số 5/5A14, đường N13, khu dân cư Minh Tuấn đột nhập vào phòng số 2 của ông Tr V Kh lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S; 01 điện thoại di động hiệu Sony M4 và số tiền 1.075.000 đồng. Khi H quay lại khu vực làm rơi điện thoại để tìm kiếm thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông Kh có tổng trị giá 5.875.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội

Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, có tiền tiêu xài, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 27 tháng 7 năm2012 Ủy ban nhân dân huyện Ph, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 976/QĐ- UBND đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 30 tháng 5 năm 2014 Công an huyện Ph, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 45/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 18 tháng 9 năm 2014 Ủy ban nhân dân huyện Kh, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 47/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 06 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 16 tháng 10 năm 2014 Công an huyện Ph, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 59/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 22 tháng 4 năm 2015 bị Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số 38/QĐ-XPVPHC với hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 23 tháng 4 năm 2015 Công an huyện Ph, tỉnh Quảng Nam bắt đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 15 tháng 01 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Ph, tỉnh Quảng Nam. Ngày 01 tháng 11 năm 2017 bị cáo lại tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản và được xét xử trong vụ án này.

[6] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Tr V Kh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S; 01 điện thoại di động hiệu Sony M4; số tiền 1.075.000 đồng là tài sản do bị cáo H chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của ông Tr V Kh nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Kh là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về án phí, lệ phí của Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo L Th H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo L Th H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2017.

2. Về án phí: Bị cáo L Th H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


32
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về