Bản án 45/2018/HSST ngày 26/07/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 45/2018/HSST NGÀY 26/07/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/HSST ngày 20/6/2018 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 59/2018/QĐX XST-HS ngày 06/7/2018 đối với các bị cáo: 

1/ Nguyễn Ngọc S, tên gọi khác: Đ; giới tính: Nam; sinh năm: 1989; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường A, Khu phố B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Nhà trọ 60 đường A1, Khu phố B1, phường C1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1966 và bà Trần Mỹ C, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngay 08/3/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2/ Vương Kim L, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1981; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Căn hộ X, Chung cư Y, phường C2, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 07/12; con ông Vương Tô H, sinh năm 1951 (chết) và bà Hà T, sinh năm 1955; có vợ Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1991, có 03 con lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 1/Ngày 11/5/1998 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 875/HSST. 2/ Ngày 15/4/2009 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 77/HSST.

Bị cáo bị tạm giam từ ngay 08/3/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3/ Nguyễn Thị Thùy T, tên gọi khác: Bé; giới tính: Nữ; sinh năm: 1991; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 745/23 đường M, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Căn hộ X, Chung cư Y, phường C2, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh online tại nhà; trình độ học vấn: 10/12; cha: Không rõ và bà Trần Thị Lan, sinh năm 1963; chồng Vương Kim L, sinh năm 1981; có 03 con lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngay 08/3/2018 đến ngày 04/4/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 08/3/2018, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 2 tuần tra đến trước siêu thị điện máy Nguyễn Kim, số 378 Nguyễn Duy Trinh, phường Bình Trưng Đông, Quận 2 phát hiện Nguyễn Ngọc S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện S đang tàng trữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, trong túi quần trước bên trái nên mời về Công an phường Bình Trưng Đông làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 2, S khai đó là gói ma túy đá vừa mua của người tên L tại

Căn hộ X, Chung cư Y, phường C2, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 500.000 đồng. Tổ tuần tra đã đưa S về trụ sở Công an phường Bình Trưng Đông, Quận 2 để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 tiến hành khám xét khẩn cấp địa chỉ Căn hộ X, Chung cư Y, phường C2, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, (chỗ ở của Vương Kim L và Nguyễn Thị Thùy T) thu giữ nhiều chất bột màu trắng nên mời L và T về điều tra, làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 L khai nhận L và S đều nghiện ma túy và nhiều lần sử dụng chung ma túy với nhau tại nhà L, ngoài ra L còn bán ma túy cho S được khoảng 03 đến 04 lần, mỗi lần 500.000 đồng. Nguồn ma túy do L mua của một người tên H (chưa rõ lai lịch) ở Quận 8, mỗi lần mua khoảng 2.000.000 - 4.000.000 đồng. L chỉ bán ma túy cho S và để sử dụng, ngoài ra không bán cho ai khác. Trưa ngày 08/3/2018, L đang ngủ trưa thì S gọi điện mua ma túy, vợ L là Nguyễn Thị Thùy T bắt máy, do có biết S nên T lấy 01 gói ma túy giao cho S và nhận lại 700.000 đồng từ S (500.000 đồng tiền ma túy và 200.000 đồng tiền S nợ L).

Nguyễn Thị Thùy T khai nhận, do L và S sử dụng ma túy nhiều lần tại nhà của vợ chồng T nên T biết L cất giấu ma túy ở đâu. Trưa ngày 08/3/2018, S điện thoại cho L để mua ma túy, do L đang ngủ trưa nên T nghe máy và hẹn S đến để giao ma túy, khi S đến thì T lấy 01 gói ma túy đá trong bóp của L đưa cho S và nhận lại 700.000 đồng. Khi Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 đến khám xét, do sợ bị lộ nên T lén lút lấy chiếc bóp có chứa ma túy ném qua cửa sổ xuống đất thì bị phát hiện thu giữ. T mới giao ma túy cho S một lần vào trưa 08/3/2018.

+ Thu giữ của S:

- 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh-xám.

- 210.000 đồng.

- Một số dụng cụ dùng để phân lẻ, sử dụng ma túy gồm: 01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống phiễu thủy tinh, 02 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly màu đen, 03 cây kéo, 06 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 07 miếng nylon.

Theo kết luận giám định số 567 ngày 16/3/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự

- Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì 01 gói nylon chưa tinh thể không màu thu giữ của S là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6001g.

+ Thu giữ của L:

- 09 gói nylon chứa tinh thể không màu.

- 01 gói nylon chứa chất bột được nén lại thành dạng viên, gồm: 03 viên nén màu xanh lá cây và 02 viên nén màu hồng.

- 01 chiếc bóp sọc caro.

- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, bị bể màn hình

- 10 gói nylon không chứa gì.

- 500.000 đồng.

- Một số dụng cụ dùng để phân lẻ, sử dụng ma túy, gồm: 01 cân tiểu ly màu đen, 01 cây khò gas, 01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống tẩu thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa và 01 bình gas hiệu Blusky.

Theo kết luận giám định số 566 ngày 16/3/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự

- Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì 01 gói nylon chưa tinh thể không màu thu giữ của Vương Kim L là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 19,0777g. Đối với chất bộ được nén lại dạng viên thu giữ của Vương Kim L là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, khối lượng 1,6083g.

Đây là những vật chứng liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, chờ tòa quyết định.

Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra –Công an Quận 2 có tạm giữ một số tài sản của S, L và T, qua quá trình điều tra xét thấy không liên quan đến vụ án, đã trả lại cho S, L và T.

Ngày 10/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Ngọc S;

Ngày 13/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Vương Kim L và Nguyễn Thị Thùy T.

Riêng Nguyễn Thị Thùy T, ngày 04/4/2018, Bệnh viện Chí Hòa có thông báo bị can Nguyễn Thị Thùy T đang mang thai 08 tuần tuổi nên Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 ra Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với T.

Đối với người đàn ông tên H (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho L, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, các bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác. Đối với việc xử lý vật chứng của vụ án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì thêm.

Bản Cáo trạng số 32/CTr-VKS ngày 16 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và các bị cáo Vương Kim L và Nguyễn Thị Thùy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vương Kim L và Nguyễn Thị Thùy T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong đó L nhiều lần mua ma tuý của một người tên H (chưa rõ lai lịch) về bán ma túy cho S, mỗi lần 500.000 đồng, ngoài ra còn thu giữ của L 19,0777g Methamphetamine, 1,6083g MDMA. T là người giúp sức cho L để bán ma túy cho S 01 lần có khối lượng 0,6001g Methamphetamine, do đó hành vi của Vương Kim L và Nguyễn Thị Thùy T đu yếu tố cấu thanh tôi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ 0,6001g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cần phải xử lý nghiêm.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, riêng bị cáo S và bị cáo T phạm tội lần đầu nhân thân chưa có tiền án tiền sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo T đang mang thai nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, i khoan 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Vương Kim L từ 08 đến 10 năm tù.

Áp dụng khoan 1 Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy T từ 02 đến 03 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền 1.250.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng điểm c khoan 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 02 đến 03 năm tù.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng:

Các bị cáo đều nói đã rất ăn năn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo L đã mua một lượng lớn ma túy để phân nhỏ bán lại cho bị cáo S nhằm kiếm lời phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mình. Vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo L là người đi mua ma túy với số lượng lớn về bán cho S, bị cáo T là đồng phạm khi giúp sức cho L bán ma túy cho S. Bị cáo S thừa nhận do cần ma túy để sử dụng nên đã mua ma túy của bị cáo L hơn hai lần.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định ... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 và Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Bản thân các bị cáo là công dân, biết rất rõ tác hại của ma tuý và đường lối xử lý của pháp luật. Song do muốn có tiền và để thỏa mãn cơn nghiện, thỏa mãn các nhu cầu khác mà không phải lao động các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, gieo rắc cái chết trắng trong xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm như Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng phân loại tội phạm, giáo dục các bị cáo nói riêng và đảm bảo việc đấu tranh, răn đe, phòng chống tội phạm nói chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo L đã vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là phạm tội hai lần trở lên và Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam được quy định tại điểm b, i khoan 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần phải áp dụng với bị cáo khi lượng hình.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, nên áp dụng cho các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo S và T, các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên áp dụng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo T hiện đang có thai nên áp dụng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ thêm hình phạt với bị cáo nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt là phạt tiền đối với các bị cáo.

Cần buộc bị cáo L nộp lại 1.250.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định.

Về vật chứng:

- 01 gói niêm phong mã vụ 567/18/Q2 bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Ngọc S, bên trong có gói nylon chứa 0,6001g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,5062g; 01 gói niêm phong mã vụ 566/18/Q2 bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Thị Thùy T. Bên trong có: 09 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn có khối lượng 19,0777g, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 18,7000g. 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn có khốilượng 1,0473g loại MDMA, 01 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,402g, loại MDMD, một mảnh vụn màu hồng loại MDMA, một mảnh vụn màu hồng là ma túy ở thể rắn loại MDMA khối lượng 0,1586g, khối lượng còn lại sau giám định là 0,8384g; một số dụng cụ dùng để phân lẻ, sử dụng ma túy gồm: 

01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống phiễu thủy tinh, 02 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly màu đen, 03 cây kéo, 06 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 07 miếng nylon; 01 cân tiểu ly màu đen, 01 cây khò gas, 01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống tẩu thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa và 01 bình gas hiệu Blusky, thu giữ của các bị cáo. Xét đây là chất cấm lưu hành, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh-xám; 210.000 đồng, thu giữ của S và 01 điện thoại di động Samsung màu đen, bị bể màn hình; 500.000 đồng, thu giữ của L. Xét đây là tiền do phạm tội mà có và là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng bán ma túy cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vương Kim L, Nguyễn Thị Thùy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Vương Kim L 08 (tám) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2018.

Buộc bị cáo L nộp số tiền 1.250.000 (một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, nếu các bị cáo không thi hành các khoản nêu trên, thì hàng tháng các bị cáo phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam, tạm giữ trước đây từ ngày 08/3/2018 đến ngày 04/4/2018.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói niêm phong mã vụ 567/18/Q2 bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Ngọc S, bên trong có gói nylon chứa 0,6001g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,5062g; 01 gói niêm phong mã vụ 566/18/Q2 bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Thị Thùy T. Bên trong có: 09 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn có khối lượng 19,0777g, loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là18,7000g. 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,0473g loại MDMA, 01 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,402g, loại  MDMD, một mảnh vụn màu hồng loại MDMA, một mảnh vụn màu hồng là ma túy ở thể rắn loại MDMA khối lượng 0,1586g, khối lượng còn lại sau giám định là 0,8384g; một số dụng cụ dùng để phân lẻ, sử dụng ma túy gồm:

01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống phiễu thủy tinh, 02 hộp quẹt gas, 01 cân tiểu ly màu đen, 03 cây kéo, 06 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 07 miếng nylon; 01 cân tiểu ly màu đen, 01 cây khò gas, 01 ống thủy tinh dạng hồ lô, 01 ống tẩu thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa và 01 bình gas hiệu Blusky.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh-xám; 01 điện thoại di động Samsung màu đen, bị bể màn hình; số tiền 710.000 đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKS ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2018/HSST ngày 26/07/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:45/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 2 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về