Bản án 45/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 45/2019/HS-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2019/HSST ngày 14/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2019/QĐXXST-HS ngày 27/3/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S; Giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại tỉnh Bạc Liêu; Hộ khẩu thường trú: xã Tân Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; Trình độ văn hóa 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn C và bà Lý Thị L; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 – Ngày 09/9/2017 Tòa án nhân dân Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 29/11/2018 (có mặt).

Bị hại: Ông K’B, địa chỉ: phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ và liên quan: Bà Ka N, địa chỉ: xã Tân Nghĩa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S quen biết với anh K’ B khi đá bóng chung tại sân bóng Đạt Đức. Ngày 28.10.2018 Sắc cùng anh K’ B, Trần Phước T và một số người đá bóng chung cùng tổ chức ăn uống và hát Karaoke tại quán Star Queen tại Nguyễn Văn Lượng phường 16, quận Gò Vấp. Khi thanh toán tiền mọi người không đủ tiền trả (hơn 2 triệu đồng) nên S đề nghị để Sắc trả nhưng do không đủ tiền nên S mượn xe máy hiệu Yamaha biển số 49G1-6543 của anh K’ B đi rút tiền. Khi S chạy xe đi tìm cây ATM để rút tiền thì nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh K’ B nên không rút tiền mà chạy xe lên Thủ Đức thuê nhà trọ, đến ngày 28/10/2018 S rao bán chiếc xe trên mạng xã hội với số tiền là 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 28.10.2018 S đá bóng tại sân bóng Cây Sộp 3, quận 12 thì bị anh T phát hiện bắt giữ giao cho Công an phường 16 quận Gò Vấp xử lý (BL37-39).

Tại Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Nguyễn Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (BL67-79).

Vật chứng vụ án:

- 01 xe máy Yamaha LUVIAS biển số 49G1-26543. Tại bản Kết luận giám định tài sản số: 366/KL ngày 04.12.2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng UBND quận Gò Vấp kết luận: ước tính giá trị xe máy Yamaha LUVIAS số khung 009171, số máy 1009170 do công ty Yamaha Motor Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 28.10.2018 là 13.167.000 đồng. Quan xác minh chiếc xe máy hiệu Yamaha LUVIAS biển số 49G1-26543 do chị K Nhờng (mẹ ruột của anh K’ B đứng tên chủ quyền) bà K N đã giao xe trên cho anh K’ B làm phương tiện đi làm, anh K’ B yêu cầu Sắc phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Hiện tại Sắc chưa có khả năng bồi thường cho anh K’ B.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 12/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Buộc bị cáo bồi thường cho anh K’ B số tiền 13.000.000 đồng;

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng lòng tin của bị hại giao cho bị cáo 01 xe Yamaha Luvias biển số 49G1-265.34 để đi rút tiền, sau khi mượn được xe của anh K’B chạy đi, bị cáo đã không đi rút tiền mà nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của anh K’B sau đó rao bán trên mạng xã hội, thu lợi được 2.000.000 đồng, bị cáo lấy tiều tiêu xài cá nhân và bỏ trốn, tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 xe Yamaha Luvias được định giá là 13.167.000 đồng, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

[4] Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật và nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo lao vào con đường phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo giúp bị cáo nhận thức được hành vi sai trái. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo bị cáo thành người tốt sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị hại là ông K’B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ka N vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông K’B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho ông K’B số tiền trên. Hội đồng xét xử xét thấy đây là thỏa thuận dân sự giữa các bên không trái quy định pháp luật nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02(hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 29/11/2018.

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Buộc bị cáo bồi thường cho ông K’B số tiền 13.000.000 đồng;

Áp dụng Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chưa bồi thường cho ông K’B số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Việc Thi hành án được thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sựNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 650.000(sáu trăm năm mươi ngàn) đồng

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. 


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:45/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về