Bản án 45/2019/HS-ST ngày 21/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 45/2019/HS-ST NGÀY 21/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nà Sáy, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn S; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985; tại xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; con ông: Lò Văn Đ, sinh năm 1954 và con bà: Lò Thị B, sinh năm 1954; bị cáo có vợ là Quàng Thị L, sinh năm 1987, bị cáo chưa có con; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 18/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 30 tháng tù về tôi Cướp giật tài sản và tội Trộm cắp tài sản; ngày 25/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 04/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, phạt bổ sung 5.000.000đ; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2019 đến ngày 26/01/2019 và bị tạm giam từ ngày 26/01/2019 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Lò Thị H; sinh năm 1981; trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp. Có mặt.

* Người phiên dịch cho chị Lò Thị H có: Chị Tòng Thị T; trú tại: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lại Thị Y; sinh năm 1977; địa chỉ: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 22/01/2019, Lò Văn S một mình đi từ nhà ở bản N, xã N, huyện T đi chơi xung quanh khu vực bản Nà Sáy. Khi đi qua nhà chị Lò Thị H (Là chị gái ruột của bị cáo); sinh năm 1981; trú cùng bản bị cáo không thấy ai ở nhà, cổng chốt nhưng không khóa, S mở cổng đi vào trong sân rồi đi ra phía cửa phụ mở cửa đi vào trong nhà và mở ti vi lên xem. Xem ti vi được khoảng 10 phút, bị cáo quan sát trong nhà thấy có chùm chìa khóa cắm ở ổ khóa phòng ngủ của chị H, bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. S liền lấy khóa mở của phòng và đi vào bên trong. Khi vào trong phòng có 01 chiếc két sắt, S lấy khóa ở trong chùm chìa khóa mở két sắt ra thì thấy bên trong có 01 ngăn nhỏ, bị cáo tiếp tục dùng chìa khóa trong chùm chìa khóa mở két sắt ra thì thấy bên trong có một ngăn nhỏ, S tiếp tục dùng chìa khóa trong chùm chìa khóa mở ngăn két nhỏ ra thì thấy bên trong có 01 túi vải đỏ. Bị cáo mở chiếc túi màu đỏ ra thì thấy 01 sợi dây chuyền vàng cho vào trong túi quần bên phải đang mặc. Sau khi trộm cắp tài sản xong, S để lại nguyên trạng như ban đầu rồi đi bộ ra ngã ba bản Nà Sáy. Khi đi đến ngã ba, bị cáo thuê xe ôm anh Lò Văn D chở bị cáo ra thị trấn Tuần Giáo và trả anh D 50.000đ. Khi ra đến khu vực đường rẽ lên Trung tâm y tế huyện Tuần Giáo thì bị cáo xuống xe và anh D đi đâu bị cáo không biết. Bị cáo tiếp tục đi bộ lên khối Tân Tiến, thị trấn Tuần Giáo và đi vào của hàng vàng bạc Nam Yến bán sợi dây chuyền vàng cho chị Lại Thị Y với giá 10.465.000đ. Sau khi bán được vàng, bị cáo thuê xe ôm của một người chạy xe ôm bị cáo không quen biết với giá 50.000đ đi về xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Khi đến khu vực bản Ta Cơn, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo thì bị cáo xuống xe và đi bộ lên nhà chị Quàng Thị N (Chị vợ của bị cáo); khi gặp N bị cáo đã mua của N 01 gói Heroine với giá 50.000đ nhằm mục đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine, bị cáo đi đến 01 cửa hàng tạp hóa ở Chiềng Sinh mua thức ăn, đồ uống hết 155.000đ. Sau khi mua xong bị cáo đi trên đường thuộc bản Che Phai, xã Chiềng Sinh; thì gặp bố và anh rể của bị cáo đến đưa bị cáo về nhà của chị Lò Thị H. Khi về đến nhà chị Lò Thị H thì tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến giải quyết vụ việc trộm cắp vàng của gia đình chị H. Qua kiểm tra đã phát hiện và bắt quả tang, thu giữ trong túi áo bên trái đang mặc của bị cáo 01 gói nhỏ nghi Heroine, đồng thời tạm giữ của bị cáo 10.210.000đ. Lò Văn S và vật chứng đã được đưa về Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo để điều tra làm rõ.

Sau khi đưa vật chứng về Cơ quan điều tra, Công an huyện Tuần Giáo thì Cơ quan điều tra đã mở niêm phong có sự chứng kiến của bị cáo: Đối với 01 gói chất bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của bị cáo Lò Văn S được xác định khối lượng 0,19gam và trích 0,05 gam làm mẫu vật gửi giám định. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 44, ngày 29/01/2019. Tại bản Kết luận giám định số: 257/GĐ-PC09 ngày 02/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn S gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroine.

Ngày 23/02/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 40 để tiến hành định giá; tại kết luận định giá số 04/KL-ĐGTS ngày 24/01/2019 của Hội đồng định giá đã kết luận 01 dây chuyền vàng 999, trọng lượng 2,99 chỉ, tại thời điểm tháng 01/2019 trên địa bàn huyện Tuần Giáo có giá trị 3.600.000đ/chỉ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Qua hội đồng định giá 01 dây chuyền vàng 999, trọng lượng 2,99 chỉ còn nguyên giá trị 3.600.000đ/chỉ × 2,99 chỉ = 10.764.000đ (Mười triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKSTG ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa vị Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn Sáng từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 18 đến 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung của hai tội đối với bị cáo từ 36 tháng đến 48 tháng; không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,14 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng và trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đen đã qua sử dụng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Chị Lò Thị H và chị Lại Thị Y đều không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa chị Lò Thị H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Lò Văn S nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy bị cáo Lò Văn S thừa nhận: Khoảng 08 giờ ngày 22/01/2019, bị cáo đã đến nhà chị Lò Thị H và tại nhà chị H bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 sợi dây chuyền vàng. Sau khi trộm cắp được bị cáo đã đem đi bán được 10.465.000đ (Mười triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Sau khi có tiền bị cáo đã dùng số tiền trộm cắp được đến nhà Quàng Thị N mua được 01 gói Heroine với giá 50.000đ với mục đích để sử dụng và mua thức ăn đồ uống. Khi đang trên đường để đi sử dụng ma túy thì bố và anh rể bị cáo đã đi tìm gặp được bị cáo, yêu cầu bị cáo đi về nhà. Khi bị cáo đi về nhà thì đã bị phát hiện tàng trữ trái phép gói Heroine và số tiền còn lại. Gói vật chứng thu giữ của bị cáo khi mở niêm phong xác định khối lượng, thì bị cáo đã được chứng kiến và thừa nhận khối lượng thu giữ là 0,19 gam Heroine. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp Kết luận điều tra, nội dung cáo trạng và tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn S đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bởi vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ vụ án thấy, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để nhằm thỏa mãn mục đích có tiền tiêu xài cá nhân. Khi bị cáo đã có tiền bị cáo đã mua ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, khiến cho tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo: Khối lượng Heroine bị thu giữ của Lò Văn S là 0,19 gam; nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam; số ma túy đã bị thu giữ bị cáo thừa nhận tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; bởi vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo được xác định 01 sợi dây chuyền vàng có giá trị là 10.764.000đ, nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có mức hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Còn nhỏ ở với bố mẹ, được bố mẹ nuôi dưỡng; học hết lớp 7/12 thì bỏ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình tại bản Nà Sáy 2, xã Nà Sáy, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Ngày 18/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 30 tháng tù về tôi Cướp giật tài sản và tội Trộm cắp tài sản; ngày 25/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 04/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 24/01/2019 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo khởi tố về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo đã nhiều lần nhận được sự giáo dục của Nhà nước nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà khi về địa phương bị cáo tiếp tục tái nghiện ma túy. Để có tiền phục vụ những cơn nghiện ma túy và tiêu xài, bị cáo đã bất chấp quy định của Pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vậy, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội và cũng là cơ hội để giúp bị cáo cai nghiện ma túy.

[5] Theo khoản 5 Điều 249 BLHS và khoản 5 Điều 173 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Lò Văn S từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu là 36 tháng đến 48 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo nên cần chấp nhận.

[7] Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai do bị cáo mua của Quàng Thị N. Quá trình điều tra N không có mặt tại địa phương nên không thể tiến hành điều tra làm rõ. Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã khoanh cắt để tiếp tục điều tra sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Trong quá trình điều tra, chị Lò Thị H có khai mất 14 chỉ vàng, nhưng chị H không đưa ra chứng cứ để chứng minh được; đồng thời bị cáo chỉ thừa nhận có trộm căp 01 dây chuyền có trọng lượng là 2,99 chỉ vàng 999, nên không có cơ sở điều tra đối với 11 chỉ vàng đã mất, vì vậy HĐXX chỉ xem xét giải quyết trọng lượng vàng 2,99 chỉ vàng 999 có giá trị 10.764.000đ.

[9] Về phần bồi thường dân sự: Chị Lò Thị H và chị Lại Thị Y đều không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[10] Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,14 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng và trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đen đã qua sử dụng.

Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 2,99 chỉ đã trả lại cho chị H và 10.210.000đ đã trả lại cho chị Lại Thị Y. Việc trả lại tài sản của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo là có căn cứ, đúng với quy định của Pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo đủ điều kiện để miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Bị cáo không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173, Điều 55, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn S 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 18 (Mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo phải chấp hành là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/01/2019.

3. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,14 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng và trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đen đã qua sử dụng. Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo Phiếu nhập kho số: PNKVC61, ngày 23/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

4. Án phí: Bị cáo Lò Văn S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn S; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21/6/2019); chị Lại Thị Y có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của chị Y trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HS-ST ngày 21/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:45/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về