Bản án 45/2019/HS-ST ngày 29/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 45/2019/HS-ST NGÀY 29/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Vũ V K - Sinh năm 1963, tại xã G T, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 12, xã G T, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Phạm Thị C (đều đã chết); Vợ là: Phạm Thị N - Sinh năm 1964; Có 03 con lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tính từ ngày bị bắt tạm giữ 15/02/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.

2. Vũ V D - Sinh ngày 25/8/1993, tại xã G T, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 12, xã G T, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ - Sinh năm 1969 và bà Lưu Thị M - Sinh năm 1974; Vợ là: Nguyễn Thị G - Sinh năm 1992; Có 02 con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/7/2014 bị TAND quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng 14 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2019 đến ngày 24/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết định cho bảo lĩnh số: 01 ngày 24/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy.

3. Trịnh Văn H - Sinh năm 1986, tại xã G T, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 12 xã G T, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trịnh Thị T - Sinh năm 1960; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2019 đến ngày 24/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết định cho bảo lĩnh số: 02 ngày 24/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy.

4. Vũ C N - Sinh ngày 05/4/1996, tại xã G T, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 12 xã G T, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C - Sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị V - Sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/02/2019 đến ngày 23/02/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 23 ngày 23/02/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn Th - Sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm 12, xã G T, huyện G, tỉnh N.

2. Anh Nguyễn Cao C - Sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm 8, xã G T, huyện G, tỉnh N.

Ti phiên tòa: 04 bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 14/02/2019 Vũ V K lần lượt gọi điện rủ Trịnh Văn H, Vũ V D đều trú tại xóm 12 xã G T, đến nhà anh Vũ Văn Đ ở cùng xóm 12 (vợ chồng anh Đ đi vắng chỉ có con trai Vũ Văn Ch bị bệnh tâm thần ở nhà) để đánh bạc. H và D đồng ý. K điều khiển xe máy BKS 18G1-09944 đến nhà anh Đ. Trên đường đi, K gặp anh Vũ Văn Th, K rủ anh Th đến nhà anh Đ để đánh bạc, anh Th đồng ý. Sau khi K tới nhà anh Đ được khoảng 05 phút thì anh Nguyễn Cao C đến chơi, sau đó lần lượt anh Th, H đến. K bảo H cắt quân bài vị. H dùng kéo của nhà anh Đ cắt 4 quân bài vị từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Sau khi cắt quân bài xong, không tìm thấy bát đĩa nên K nhờ anh Th đi lấy bát đĩa để đánh bạc. Anh Th sang nhà anh Vũ Văn C lấy 01 chiếc bát và 01 chiếc đĩa về cho K. Sau đó, D đến. K bảo D xóc cái, D đồng ý xóc cái cho H và K đặt cửa đánh bạc với mức từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng/ván trên chiếc chiếu đã trải sẵn ở phòng khách nhà anh Đ. Anh T, anh C không chơi, chỉ đứng xem.Trong khi các đối tượng đang đánh bạc thì Vũ C N đến và cùng tham gia chơi đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì tổ tuần tra Đồn Công an Quất Lâm phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.850.000 đồng, thu trên người các đối tượng số tiền 7.030.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị, 01 chiếc chiếu nhựa, 01 kéo kim loại, 04 điện thoại di động các loại, 03 xe máy các loại, bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao thủy giải quyết theo thẩm quyền.

Ti phiên tòa: Vũ V K khai nhận là người khởi xướng rủ các đối tượng khác đánh bạc, khi đi mang theo 270.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt trên tay có 250.000 đồng vứt xuống chiếu bạc. Vũ V D khai mang theo 6.230.000 đồng và bỏ ra 2.200.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 4.030.000 đồng, D khai không sử dụng để đánh bạc. Trịnh Văn H khai mang theo 4.600.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 3.000.000 đồng. Vũ C N khai mang theo 200.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đã thua hết.

Bản Cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 25/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Vũ V K, Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đi diện VKSND huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định hành vi của các bị cáo Vũ V K, Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N đã sử dụng tổng số tiền 9.850.000 đồng vào việc đánh bạc nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ V K, Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ V K từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ V D từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; bị cáo Vũ C N từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và điều kiện thu nhập của các bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho cả 4 bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

khon 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 9.850.000 đồng và 03 chiếc điện thoại di động.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị, 01 chiếc chiếu, 01 chiếc kéo.

- Trả lại cho Vũ V D số tiền 4.030.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/02/2019, tại nhà anh Vũ Văn Đ, thuộc xóm 12 xã G T, huyện Giao Thủy, lực lượng tuần tra Đồn công an Quất Lâm,Công an huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang các bị cáo Vũ V K,Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N đang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “xóc đĩa”, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.850.000 đồng, thu trên người bị cáo Trịnh Văn H số tiền 3.000.000 đồng bị cáo khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc. Hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 9.850.000 đồng. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh “xóc đĩa” ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt phù hợp.

Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: Tại cơ quan CSĐT cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo: Vũ V K, Trịnh Văn H và Vũ C N, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo đều có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo là đồng phạm về tội đánh bạc bị cáoVũ V K là người khởi xướng, rủ rê và phân công các bị cáo khác chuẩn bị công cụ và người xóc cái nên giữ vai trò đầu vụ. Các bị cáo còn lại căn cứ vào lượng tiền cũng như thời gian đánh bạc thì vị trí của từng bị cáo xếp lần lượt như sau: Vũ V D, Trịnh Văn H, Vũ C N.

Từ những phân tích trên đây, Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Vũ V K; áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ Công N, cũng đủ để răn đe giáo dục, như quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo điều kiện gia đình khó khăn.Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tch thu sung quỹ Nhà nước: 9.850.000 đồng.

- Tịch thu 03 chiếc điện thoại di động các loại mà các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ nhau đánh bạc, hóa giá sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị, 01 chiếu, 01 chiếc kéo (đều đã qua sử dụng).

Đi với số tiền 4.030.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Vũ V D. Quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định D sử dụng vào việc đánh bạc, vì vậy nay trả lại cho bị cáo số tiền này.

Đi với 01 chiếc điện thoại di động của Vũ C N, 03 xe máy Cơ quan điều tra đã thu giữ. Quá trình điều tra xác định đó là những tài sản không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Đi với anh Vũ Văn Đ, anh Nguyễn Cao C, anh Vũ Văn C, quá trình điều tra xác định khi các đối tượng đánh bạc tại nhà mình, anh Đ không biết. Anh C là người đứng xem, không tham gia chơi đánh bạc, anh Ch có mặt ở nhà nhưng là người bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với anh Đ, anh C và anh Ch là phù hợp.

Đi với anh Vũ Văn Th đã có hành vi đi lấy hộ bị cáo K bát đĩa để các đối tượng đánh bạc nhưng Th không tham gia đánh bạc. Xét thấy hành vi của anh Th chưa đến mức phải xử lý về hình sự nên Công an huyện Giao thủy đã xử phạt hành chính đối với anh Th là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Vũ V K, Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N phạm tội “ Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ V K 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2019.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Vũ V D 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2019 đến ngày 24/4/2019).

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2019 đến ngày 24/4/2019).

+ Xử phạt bị cáo Vũ C N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ng ày 15/02/2019 đến ngày 23/02/2019).

Giao các bị cáo Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N cho UBND xã G T, huyện G, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tch thu sung quỹ Nhà nước: 9.850.000 đồng.

- Tịch thu 03 chiếc điện thoại di động các loại mà các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ nhau đánh bạc, hóa giá sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị, 01 chiếu, 01 chiếc kéo.

- Trả lại cho bị cáo Vũ V D số tiền 4.030.000 đồng.

(Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Vũ V K, Vũ V D, Trịnh Văn H và Vũ C N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HS-ST ngày 29/05/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:45/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về