Bản án 46/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
BẢN ÁN 46/2017/HSST NGÀY 27/07/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG
Ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2017/HSST ngày 19/6/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hờ A H (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1989; tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên; Trú tại: B, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: 1/12; Con ông: Hờ Vảng Th (SN: 1969) và bà Ly Thị D (SN: 1967); Có vợ là Mùa Thị P (SN: 1989) và có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Nguyên đơn dân sự:
- Cộng đồng bản N, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Đại diện hợp pháp: Ông Đao Văn Đ (SN: 1977) - Trưởng bản; Có mặt tại phiên tòa.
Trú tại: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hờ Vảng Th - SN: 1969 – Có mặt tại phiên tòa.
Trú tại: Bản V, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
NHẬN THẤY
Bị cáo Hờ A H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, đất canh tác cũ đã bạc màu nên Hờ A H đi tìm đất để làm nương mới. Hờ A H chọn một khu rừng cách nhà H khoảng 01 giờ đi bộ. Vào khoảng 07 giờ ngày 10/02/2017 Hờ A H đi bộ một mình từ nhà mang theo 01con dao phát đi đến khu rừng đã chọn trước đó. Khoảng 8 giờ H tới nơi và bắt đầu dùng dao phát để phát những cây cỏ bụi và chặt hạ những cây gỗ nhỏ đến ngày 15/02/2017 thì xong. Ngày 16/02/2017 H mượn chiếc máy cưa cầm tay của ông Hờ Vảng Th đi đến khu rừng đang phát và dùng máy cưa hạ những cây gỗ to. Đến 16 giờ cùng ngày thì xong. Quá trình chặt phá, H đã dùng 01 con dao phát và 01 cưa máy cầm tay chặt phá diện tích rừng 3.844 m2. Mức độ thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng của Hờ A H là 100%.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/3/2017 đã xác định: Tổng diện tích rừng bị phá là 3.844 m2 trạng thái rừng IIb, là rừng phòng hộ có vị trí tại khoảnh 14, tiểu khu 133 thuộc diện tích rừng đã giao cho Cộng đồng bản N, xã N quản lý, bảo vệ (Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tổng sản lượng rừng mà Hờ A H hủy hoại là: 70,52 m3, trong đó: Sản lượng gỗ: 56,06 m3, Sản lượng củi: 14,46 m3.
Tại kết luận định giá tài sản số 13 ngày 28/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mường Nhé, xác định tổng giá trị thiệt hạị do Hờ A H gây ra là 89.650.000đ (Tám mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 31/QĐ-VKS-HS ngày 19 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố Hờ A H về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, Nghị quyết 41 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 dao phát là vật chứng của vụ án và trả lại chiếc máy cưa cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hờ Vảng Th. Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng, buộc bị cáo Hờ A H phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 89.650.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hờ Vảng Th trình bày, H mượn máy cưa của tôi bảo là để xẻ củi, tôi không biết H mượn đề chặt phá rừng. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định trả lại cưa cho tôi.
Bị cáo Hờ A H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự.
XÉT THẤY
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để kết luận:
Từ ngày 10/02/2017 đến ngày 15/02/2017, Hờ A H đã dùng 01 dao phát và 01 cưa máy cầm tay để chặt phá diện tích rừng 3.844 m2 , là rừng phòng hộ thuộc khoảnh 14, tiểu khu 133 thuộc diện tích rừng đã giao cho Cộng đồng bản N, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên quản lý, bảo vệ. Tổng giá trị thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng mà H gây ra là 89.650.000đ (Tám mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi phá rừng trái phép nhằm mục đích làm nương của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm nương bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại lớn về môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về rừng là 2.000.000đ cho Nhà nước để khắc phục một phần hậu quả. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo theo khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm là nhẹ hơn khung hình phạt từ 7 đến 15 năm theo khoản 3 Điều 189 BLHS năm 1999. Do đó cần áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, khoản
3 Điều 7 BLHS năm 2015 sửa đổi.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn, là hộ nghèo, do đó Hội đồng xét xử  không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 điều 189 BLHS đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng do đó phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.
Về vật chứng vụ án:
- 01 con dao phát đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 cưa máy cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365 đã qua sử dụng mà Hờ A H mượn của ông Hờ Vảng Th, quá trình điều tra đã xác minh ông Th không biết H mượn vào mục đích phá rừng nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hờ Vảng Th.
Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo (Theo Giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên cấp năm 2017) và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Hờ A H phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 sửa đổi. Xử phạt bị cáo Hờ A H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/3/2017.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng: Buộc bị cáo Hờ A H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 89.650.000đ. Được trừ đi số tiền 2.000.000đ đã nộp, còn phải bồi thường tiếp 87.650.000đồng (tám mươi bảy triệu sáu trăm lăm mươi nghìn đồng).
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại 01 cưa máy cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hờ Vảng Th - SN 1969, trú tại: Bản V, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phát đã niêm phong là vật chứng vụ án Hờ A H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2017 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Hờ A H.
Án xử công khai có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2017).
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

174
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về