Bản án 46/2018/HS-ST ngày 08/06/2018 về tội vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 46/2018/HS-ST NGÀY 08/06/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 08 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018 đối với:

Bị cáo Vũ Nhậm C  Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 07 năm 1991; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12.

Bố đẻ: Vũ Nhậm Cố, sinh năm 1956. Hiện sinh sống và làm ruộng tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Mẹ đẻ: Đỗ Thị Vỹ, sinh năm 1962 (Đã chết). Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con út.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết 12/12 sau lớn lên lao động tự do tại địa phương. Quá trình sinh sống chưa có vi phạm pháp luật gì.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Người bị hại: anh Đoàn Duy Nsinh năm 1990 trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:

- Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1962, là bố đẻ anh N (vắng mặt)

- Bà Nguyện Thị Đ, sinh năm 1963, là mẹ đẻ anh N (vắng mặt)

Đều Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Bà Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho ông Đoàn Văn T tham gia tố tụng

3. Người làm chứng:

- ông Phạm Hữu T, sinh năm 1958 (vắng mặt)

- Ông Bùi Trường G, sinh năm 1970 (vắng mặt)

- Ông Phan Đắc L, sinh năm 1972(vắng mặt)

Đều trú tại tổ 1 thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1971, ở tổ 1 thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Nhậm C có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở GTVT Thái Bình cấp ngày 15/11/2011. Khoảng 19 giờ 30 ngày 23/11/2017 Vũ Nhậm C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17F4-7156 từ nhà đi sang xã Quỳnh Mỹ để mua đồ thờ cúng. Khi đến xã Quỳnh Mỹ, Công tìm mấy quán bán đồ thờ cúng nhưng các quán đóng cửa nên Công điều khiển xe quay lại. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, Vũ Nhậm C điều khiển xe mô tô đi hướng Quỳnh Mỹ- Cầu Tây, thị trấn Quỳnh Côi với tốc độ khoảng 40 đến 50km/h và đi sát vạch sơn trắng kẻ giữa đường, khi đi đến địa phận tổ 12, thị trấn Quỳnh Côi , Công phat hiên thây xe mô tô biển kiểm soát 17B1-552.12 do anh Đoàn Duy N sinh năm 1990 trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình điều khiển đi ngược chiều vơi tôc đô cao cách vạch sơn trắng kẻ giữa tim đường khoảng 40 - 50 cm trên chiều đường bên phải theo chiều Cầu Tây - Quỳnh Mỹ. Còn xe Công đi cách vạch sơn trắng kẻ giữa tim đường khoảng 50 cm trên chiều đường Quỳnh Mỹ - Cầu Tây, thị trấn Quỳnh Côi. Để tránh va chạm Công đã điêu khiên xe đi sang bên trái đường nhưng do khoảng cách quá gần, hai xe lại chạy với tốc độ cao nên xe máy do Công điều khiển đã đâm thẳng vào xe máy do Đoàn Duy N điều khiển làm cho Công ngã văng về phía trước sang bên trái chiều đi, Công bị thương nặng được quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu còn anh Đoàn Duy Nvà xe bị đổ văng nằm trên chiều đường bên phải theo hướng Quỳnh Mỹ - Cầu Tây. Anh Đoàn Duy Nđã chết tại chỗ.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 49PY/PC54 ngày 26/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình Thái Bình kết luận về nguyên nhân cái chết của anh Đoàn Duy N“ Đa chấn thương vùng đầu , mặt và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng thái dương phải, dập não. Nạn nhân Đoàn Duy N chết do chấn thương sọ não”

Tại bản cáo trạng số 45/KSĐT ngày 10/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Vũ Nhậm C về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Nhậm C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b,p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 45; điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Đề nghị tuyên trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số 340115346562 mang tên Vũ Nhậm C do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp lại ngày 06/4/2018 (trên cơ sở ngày trúng tuyển 15/11/2011) . Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả chiếc xe môtô biển kiểm soát 17B1 - 552.12 cho ông Đoàn Văn T và trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 17F4 - 7156 cho Vũ Nhậm C

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Nhậm C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, Điều tra viên thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng được chứng minh bằng các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ như:

- Sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường 455 thuộc địa phận tổ 12, thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ lập hồi 20 giờ 50 ngày 23/11/2017 (Bút lúc số: 32 – 34)

- Biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 10 giờ 45 phút ngày 03/01/2018 tại trụ sở Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (Bút lục số: 47 - 48)

- Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 49PY/PC54 ngày 26/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình Thái Bình ( bút lục 43 – 45)

- Lời khai của những người làm chứng: ông Phạm Hữu T, sinh năm 1958; Ông Bùi T, sinh năm 1970; Ông Phan Đắc L, sinh năm 1972 đều ở tổ 1 thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình và Ông Phạm Văn C, sinh năm 1971, ở tổ 1 thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Bút lục số: 69 - 84)

Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, Vũ Nhậm C có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17F4-7156 đi trên đường 455 hướng Quỳnh Mỹ- Cầu Tây với tốc độ khoảng 40 đến 50km/h đi lấn sang bên trái đường gây tai nạn giao thông với xe mô tô do anh Đoàn Duy N điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả anh Đoàn Duy N bị chết tại chỗ do chấn thương sọ não.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ

...............”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo Vũ Nhậm C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

...........

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước khi Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực pháp luật do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để giải quyết vụ án theo quy định.

[3] Xét tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo được cấp giấy phép lái xe mô tô hợp lệ nhưng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã không chấp hành các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây tai nạn dẫn đến hậu quả làm chết một người. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng ) gia đình bị hại nhất trí không có yêu cầu gì thêm. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại các điểm b, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bị cái là lao động chính duy nhất, bố đẻ bị tâm thần, mẹ đẻ đã chết và đại diện hợp pháp của người bị hại đó có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, hoàn cảnh khó khăn do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo phấn đấu cải tạo và lao động nuôi sống bản thân và gia đình là phù hợp với các quy định của pháp luật và cũng đủ giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã chấp nhận việc bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng )và không yêu cầu gì khác vì vậy không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe số 340115346562 mang tên Vũ Nhậm C do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp lại ngày 06/4/2018 (trên cơ sở ngày trúng tuyển 15/11/2011) xét thầy cần thiết trả lại cho bị cáo theo quy định

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 17B1 - 552.12 cho ông Đoàn Văn Tiếp và trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 17F4 - 7156 cho Vũ Nhậm C, xét việc xử lý vật chứng phù hợp quy định của điều 41 Bộ luật hình sự và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo luật định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Nhậm C phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b,p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều 46; điều 45; điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 Xử phạt Vũ Nhậm C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 ( mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/6/2018. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Trả cho bị cáo Vũ Nhậm C 01 giấy phép lái xe số 340115346562 mang tên Vũ Nhậm C do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp lại ngày 06/4/2018

3. Về án phí: Bị cáo Vũ Nhậm C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo Vũ Nhậm C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/6/2018. Đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được thông báo kết quả xét xử hoặc niêm yết kết quả xét xử tại trụ sở UBND xã nơi người đại diện hợp pháp cho người bị hại cư trú.


39
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về