Bản án 46/2018/KDTM-ST ngày 01/10/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 46/2018/KDTM-ST NGÀY 01/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Trong ngày 01 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2018/TLST-KDTM ngày 04 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2018/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2018/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H; Địa chỉ: Đường T, phường L, quận T, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H; Địa chỉ: Đường L, phường B, Quận K, Thành phố H; Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/3/2018)

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N; Địa chỉ: Đường N, phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

(Ông H có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 14/3/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn H là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/01/2016, Doanh nghiệp tư nhân Thương mại Dịch vụ H (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H) (sau đây gọi tắt là Công ty H) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giao nhận N (sau đây gọi tắt là Công ty N) ký Hợp đồng mua bán nhiên liệu, nội dung: Công ty H cung cấp xăng dầu cho Công ty N; Số lượng hàng giao nhận là số lượng xăng dầu bơm thực tế tại trụ bơm của Công ty H; Giá hàng hóa: Giá theo thông báo của Công ty H, phù hợp với quy định của Nhà nước + thuế Giá trị gia tăng. Thời hạn thanh toán: Công ty N thanh toán mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng.

Thực hiện hợp đồng, Công ty H đã cung cấp xăng dầu cho nhiều lần từ năm 2016 đến năm 2018 với tổng trị giá 11.461.835.440 đồng và đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty N. Công ty N đã thanh toán tổng cộng 8.516.945.530 đồng, thông qua chuyển khoản, còn nợ 2.944.889.910 đồng. Sau đó, Công ty N không thanh toán tiếp tiền hàng còn nợ dù Công ty H đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu thanh toán nợ.

Yêu cầu của nguyên đơn: Buộc Công ty N thanh toán cho Công ty H tổng số tiền mua xăng dầu còn nợ 2.944.889.910 đồng.

Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N: Dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không cử người tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn xác định yêu cầu buộc bị đơn trả tổng số tiền mua hàng còn nợ 2.944.889.910 đồng, không yêu cầu tính lãi chậm trả. Yêu cầu bị đơn thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trừ vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty H yêu cầu Công ty N thanh toán tiền mua xăng dầu còn nợ và Công ty N có trụ sở tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Về thủ tục tố tụng: Công ty N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty N.

* Về nội dung vụ án:

[1] Căn cứ vào Hợp đồng mua bán nhiên liệu; các bảng kê chi tiết nguyên liệu cấp hàng tháng; Biên bản đối chiếu công nợ; các Hóa đơn Giá trị gia tăng; các Lệnh có của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ mua bán xăng dầu giữa Công ty H và Công ty N là có thật và hợp pháp. Từ năm 2016 đến tháng 01/2018, Công ty H cung cấp xăng dầu nhiều lần cho Công ty N với tổng trị giá 11.461.835.440 đồng và Công ty N đã thanh toán tổng cộng 8.516.945.530 đồng, thông qua chuyển khoản, còn nợ 2.944.889.910 đồng. Sau đó, Công ty N không thanh toán tiếp cho Công ty H. Căn cứ các thỏa thuận trong hợp đồng mua bán nhiên liệu; Điều 50 của Luật Thương mại, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty N có trách nhiệm thanh toán số tiền mua hàng còn nợ cho Công ty H.

Công ty H không yêu cầu tính lãi chậm trả, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 72.000.000 đồng + [(2.944.889.910 đồng – 2.000.000.000 đồng) x 2%] =90.897.798 đồng.

Hoàn lại cho Công ty H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 50 và Điều 306 của Luật Thương mại;

Căn cứ vào Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N có trách nhiệm thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H tổng số tiền mua hàng còn nợ 2.944.889.910 (Hai tỷ chín trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm tám mươi chín ngàn chín trăm mười) đồng.

Ghi nhận việc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N trả lãi trên số tiền chậm trả trong thời gian qua.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại.

3. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 90.897.798 (Chín mươi triệu tám trăm chín mươi bảy ngàn bảy trăm chín mươi tám) đồng, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N chịu. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàn lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H 45.448.899 (Bốn mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm chín mươi chín) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại Dịch vụ H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Giao nhận N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.


134
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2018/KDTM-ST ngày 01/10/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Số hiệu:46/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:01/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về