Bản án 469/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 469/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2017/TLST-HNGĐ ngày 14/3/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1308/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1983 (xin vắng mặt). Địa chỉ: 230/1/8/18 T, Phường 11, quận V, TP.Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lin Ching H, sinh năm 1977 (vắng mặt). Giới tính: Nam.

Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).

Địa chỉ: 154/13 đường Đại Toàn, khóm 010, phường Lam Hưng, khu Tây, Thành phố Đài Trung, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 14/02/2017 và Bản tự khai ngày 21/3/2017 nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Lin Ching H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/8/2011 vào Sổ đăng ký kết hôn số 2830 Quyển số 10 ngày 29/8/2011. Sau khi kết hôn, bà và ông Lin Ching H không chung sống với nhau, ông Lin Ching H trở về Đài Loan, bà ở lại Việt Nam, hai bên ít liên lạc với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Lin Ching H.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà xin được vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.

Ông Lin Ching H được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các thủ tục tống đạt triệu tập đương sự hợp lệ theo quy định nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Bùi Thị Thu H khai không còn tình cảm với ông Lin Ching H, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thu H có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Bùi Thị Thu H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Bà Bùi Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Bùi Thị Thu H.

Đối với ông Lin Ching H, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho ông Lin Ching H theo quy định pháp luật nhưng đương sự vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lin Ching H.

Về nội dung:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu H và ông Lin Ching H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/8/2011 vào Sổ đăng ký kết hôn số 2830 Quyển số 10 ngày 29/8/2011 nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Thu H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Lin Ching H định cư ở Đài Loan. Sau khi kết hôn, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm nhau. Nay bà Bùi Thị Thu H xác nhận không còn tình cảm với ông Lin Ching H nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, về phía ông Lin Ching H đã được Tòa án ủy thác tư pháp thông báo yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thu H và ngày, giờ đưa vụ án ra xét xử nhưng không nhận được trả lời của ông Lin Ching H. Điều này cho thấy ông Lin Ching H không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà H, như vậy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Bùi Thị Thu H xin ly hôn ông Lin Ching H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [2] Về con chung: Bà Bùi Thị Thu H khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

 [3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Thu H khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

 [4] Về án phí:

Bà Bùi Thị Thu H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC  ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Bùi Thị Thu H và ông Lin Ching H.

2. Về con chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Bùi Thị Thu H chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2016/0033658 ngày 01 tháng 3 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Thu H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


23
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về