Bản án 470/2006/KDTM-ST ngày 18/09/2006 về tranh chấp hợp đồng đại lý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 470/2006/KDTM-ST NGÀY 18/09/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ

Ngày 18 tháng 09 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/KTST ngày 11 tháng 12 năm 2004 về việc tranh chấp “ Hợp đồng đại lý “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/QĐXX-ST ngày 11 tháng 09 năm 2006 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH NƯỚC GIẢI KHÁT COCACOLA VIỆT NAM

Địa chỉ: Km17 Xa lộ Hà Nội, phường Linh Trung, quận Thủ Đức có ông Phạm Quốc Tuấn đại diện theo uỷ quyền.

Bị đơn: BÀ ĐOÀN THỊ TÚ OANH

Địa chỉ: 191 Quang Trung, phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM

Nguyên bị đơn đều có mặt

NHẬN THẤY

Nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola ViệtNam trình bày: Ngày 07/06/1996 và 08/07/1996 nguyên bị đơn ký hợp đồng đại lý độc quyền, ngày 11/10/1997 ký phụ lục kèm hợp đồng đại lý có nội dung: bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh ký hợp đồng đại lý độc quyền với nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam, theo hợp đồng bà Oanh được công ty cocacola chỉ định làm đại lý để tiếp thị và phân phối sản phẩm do công ty cocacola sản suất trong khu vực kinh doanh đã được xác định, đổi lại bà Oanh được hưởng hoa hồng phân phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có nghĩa vụ là mua hàng và thanh toán các khoản đúng hạn theo thoả thuận, trong quá trình kinh doanh bà Oanh đã không thực hịện việc trả tiền đúng hạn nên nguyên đơn đã có thông báo xác nhận số dư nợ ngày 21/09/200â5ø bà Oanh còn nợ 557.879.200đ00 và 15.271 két vỏ chai, sau đó bà Oanh trả được một ít tiền và vỏ chai, còn lại 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh toán, nay nguyên đơn kiện bị đơn đòi số tiền nợ mua nước ngọt còn thiếu và và tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số tiền mua nước ngọt còn thiếu từ tháng 21/09/2001 đến nay ngày 18/09/2006 cụ thể là 545.379.200đ00 x 0,975% x 51,9 tháng =318.515.057đ00, tổng cộng nợ và lãi làˆ863.894.287đ00 và 14.871 két vỏ chai x 63.200đ00/két = 939.847.200đ00. Chứng cứ do phía nguyên đơn xuất trình là xác nhận nợ của bà Oanh tháng 02/1999 , 07/1999 ngày 21/09/2001, 27/09/2001.

Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh trình bày: năm 1996 bà có ký kết hợp đồng đại lý cùng nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola ViệtNam để mua nước ngọt cocacola, ngày 11/10/1997 bị đơn ký tiếp hợp đồng đại lý độc quyền với nguyên đơn, bản hợp đồng này được đính kèm vào hợp đồng đại lý nhưng bị đơn không được giư, xác nhận có ký xác nhận nợ tháng 02/1999, 07/1999 ngày 21/09/2001, 27/09/2001 do nguyên đơn giao, theo bị đơn việc xác nhận nợ đó là xác nhận nghĩa vụ từ 01 bên, tính đến năm 2001 xác nhận có nợ nguyên đơn số tiền 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai nhưng khi xác nhận nợ bị đơn có yêu cầu nguyên đơn cấn trừ nghĩa vụ về phần tiền chiết khấu, giảm giá theo điều 5 của hợp đồng đại lý ngày 11/10/1997 nhưng nguyên đơn không thực hiện. Nay bị đơn yêu cầu đình chỉ vụ kiện vì đây là hợp đồng kinh tế ký kết năm 1997 và chấm dứt ngày 22/08/1999 cho đến nay chưa thanh lý hợp đồng kinh tế này, nếu Toà vẫn tiến hành xét xử bị đơn có yêu cầu phản tố đòi nguyên đơn phải tính tiền chiết khấu trả bằng sản phẩm là 572.280.000đ00, căn cứ vào số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do nhân viên công ty cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền .

Trước yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý vì hợp đồng đại lý đã chấm dứt, hai bên đã giải quyết xong vấn đề chiết khấu nên hai bên mới thống nhất ký xác nhận công nợ ngày 21/09/2001.

XÉT THẤY

Giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ mua bán hàng nước ngọt thông qua hợp đồng đai lý, và hợp đồng đại lý độc quyền ký vào năm 1996 kèm phụ lục hợp đồng ký ngày 11/10/1997. Theo hợp đồng bà Oanh được công ty cocacola chỉ định làm đại lý để tiếp thị và phân phối sản phẩm do công ty co cacola sản suất trong khu vực kinh doanh đã được xác định, đổi lại bà Oanh được hưởng hoa hồng phân phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có nghĩa vụ là mua hàng và thanh toán các khoản đúng hạn theo thoả thuận.

Trong quá trình kinh doanh bà Oanh không thực hịện việc trả tiền đúng hạn nên nguyên đơn đã có thông báo xác nhận số dư nợ ngày 21/09/200â4ø bà Oanh còn nợ 557.879.200đ00 và 15.271két vỏ chai, sau đó bà Oanh trả được một ít tiền và vỏ chai, còn lại 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh toán nay nguyên đơn kiện bị đơn đòi số tiền này.

Xét: Về yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn số tiền nợ mua nước ngọt còn thiếu 545.379.200đ00 và 14.871 két vỏ chai, đây không phải là việc đòi nợ đơn thuần mà việc xác nhận nợ này trên cơ sở thực hiện hợp đồng đại lý 1996 kèm phụ lục ngày 11/10/1997 Toà án yêu cầu nguyên đơn xuất trình hợp đồng đại lý và hợp đồng đại lý độc quyền nguyên đơn khai có nhưng không xuất trình được bản chính Phía bị đơn xác nhận là đúng còn thiếu nguyên đơn 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh toán nhưng phản tố cho rằng theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền nguyên đơn còn thiếu chưa chiết khấu tiền nước ngọt 1000đ/két nước nên đòi nguyên đơn phải tính tiền chiết khấu trả bằng sản phẩm là 572.280.000đ00, căn cứ vào số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do nhân viên công ty cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền ø.

Xét bị đơn xác nhận còn thiếu nguyên đơn 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh toán nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu nguyên đơn .

Xét bị đơn có yêu cầu phản tố đòi nguyên đơn phải trả tiền chiết khấu 572.280.000đ00 :Theo như khai nhận của nguyên đơn thì công ty cocacola chỉ định bị đơn bà Oanh làm đại lý để tiếp thị và phân phối sản phẩm do công ty cocacola sản xuất trong khu vực kinh doanh đã được xác định, đổi lại bà Oanh được hưởng hoa hồng phân phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có nghĩa vụ là mua hàng và thanh toán các khoản đúng hạn theo thoả thuận, điều này được thể hiện cụ thể tại điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền nguyên đơn phaỉ chiết khấu cho bị đơn 1000đ/két nước trên số bán vượt chỉ tiêù, tại thư nhắc nợ lần 2 ngày 21/06/2000, các biên bản làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 21/09/2001, 13/05/2004 do nguyên đơn xuất trình thể hiện bị đơn đềũ có yêu cầu nguyên đơn phải tính tiền chiết khấu từ tháng 10/1997, các biên bản làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 21/09/2001, 13/05/2004 bị đơn đều yêu cầu nguyên đơn tính tiền chiết khấu từ tháng 10/1997, nhưng nguyên đơn không thực hiện, tại phiên toà nguyên đơn cho rằng đã giải quyết xong nên hai bên mới xác nhận công nợ, nhưng nguyên đơn không chứng minh được phần đã giải quyết xong, như vậy theo hợp đồng đại lý thì hai bên còn tranh chấp các điều khoản của hợp đồng đại lý độc quyền, không đơn thuần chỉ là phần nợ mà bị đơn còn thiếu, điều đó cho thấy hợp đồng đại lý giữa hai bên chưa thanh lý, chưa có thoả thuận nào giữa hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng đại lý và chuyển sang nợ, năm 1999, 2001 khi nguyên đơn yêu cầu bị đơn xác nhận nợ thì ngược lại bị đơn đòi nguyên đơn tính tiền chiết khấu, nhưng nguyên đơn không thực hiện, để vụ việc kéo dài từ đó đến nay, nay nếu chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì cũng phải tính đến nghĩa vụ của nguyên đơn phải thực hiện tính tiền chiết khấu cho bị đơn theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền mà hai bên đã ký, cụ thể theo bị đơn số tiền chiết khấu là 572.280.000đ00, trên cơ sở số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do nhân viên công ty cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền. Phía nguyên đơn cho rằng đã tính tiền chiết khấu cho bị đơn xong nên mới có việc ký xác nhận nợ nhưng nguyên đơn không xuất trình được các số liệu hàng đã giao, bị đơn đã nhận, đã thanh toán để dẫn đến số liệu tiền còn thiếu cũng như không chứng minh đã tính tiền chiết khấu cho bị đơn, nên buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn tiền chiết khấu 572.280.000đ00. Như vậy cấn trừ nghĩa vụ hai khoản nêu trên nguyên đơn còn phải giao lại cho bị đơn tiền chiết khấu 572.280.000đ00 -545.379.200đ00 = 26.900.800đ00, đồng thời bị đơn phải giao trả cho nguyên đơn 14.871 két vỏ chai.

Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền nước còn thiếu 545.379.200đ00 x 0,975% x 51,9 tháng =377.538.751đ00 là không có cơ sở chấp nhận nên bác yêu cầu của nguyên đơn bởi tiền chiết khấu nguyên đơn đã không thanh toán cho bị đơn, nghĩa vụ hai bên phải thực hiện song song .

Về án phí : Nguyên bị đơn phải nộp tiền án phí trên phần phải trả, ngoài ra nguyên đơn phải nộp tiền án phí trên số tiền bị bác, cả hai được cấn trừ tiền án phí tạm nộp, số còn lại phải nộp theo qui định .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự , Điều 116,118.119, khoản 4 Điều 122,123 Luật thương mại năm 1997, Nghị định 70/CP ngày 12/09/1997 của Chính phủ qui định về chế độ án phí, lệ phí Toà án và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Toà án nhân dân tối cao –Viện Kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ tư pháp-Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam và toàn bộ phản tố của bị đơn xử :

1/ Bác yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam đòi bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải trả số tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ là 318.515.057đ00 (ba trăm mười tám triệu năm trăm mười lăm ngàn không trăm năm mươi bảy ngàn đồng).

2/ Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam số tiền mua nước ngọt còn thiếu là 545.379.200đ00 (năm trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng) và 14.871 (mười bốn ngàn tám trăm bảy mươi mốt ) két vỏ chai.

3/ Nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam phải trả cho bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh số tiền chiết khấu còn thiếu là 572.280.000đ00 (năm trăm bảy mươi triệu hai hai trăm tám mươi ngàn đồng)

4/ Sau khi cấn trừ hai khoản 2 và 3 nêu trên thì nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam còn phải trả cho bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh số tiền chiết khấu còn thiếu là 26.900.800đ00 (hai mươi sáu triệu chín trăm ngàn tám trăm đồng ) và bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam ø14.871(mười bốn ngàn tám trăm bảy mươi mốt ) két vỏ chai.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu nếu bên thi hành án không trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải cho bên được thi hành án số tiền lãi tính theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án .

5/Án phí Dân sự sơ thẩm :

Nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam phải nộp là 32.001.050đ00 (ba mươi hai triệu không trăm lẻ một ngàn không trăm năm chục đồng) được cấn trừ tiền tiền tạm nộp án phí Dân sự sơ thẩm 9.453.792đ00 (chín triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm chín mươi hai đồng) theo biên lai thu số 003656 ngày 04-11-2004 của Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh còn phải nộp 22.547.258đ00 (hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi bảy ngàn hai trăm năm mươi tám đồng )

Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải nộp là 18.907.584đ00 (mười tám triệu chín trăm lẻ bảy ngàn năm trăm tám mươi tư đồng) được cấn trừ tiền tạm nộp án phí phản tố 9.8ˆ99.970đ00 (chín triệu tám trăm chín mươi chín ngàn chín trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu số 004939 ngày 26-05-2005 của Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh còn phải nộp 9.007.614đ00 (chín triệu không trăm lẻ bảy ngàn sáu trăm mười bốn ngàn đồng )

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;/.


233
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 470/2006/KDTM-ST ngày 18/09/2006 về tranh chấp hợp đồng đại lý

Số hiệu:470/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:18/09/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về