Bản án 47/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 47/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18/7/2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2017/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2017 đối với  bị cáo:

NGUYỄN NGỌC K, sinh năm 1985. Tại: huyện T, tỉnh Quảng Nam; Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh năm 1961; Bị cáo chưa có vợ. Tiền án: 02 tiền án (Tại Bản án số 40/2004/HS-ST ngày 02/8/2004, của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án số 59/2007/HSST ngày 13/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”); Tiền sự: Không; Bị bắt theo lệnh truy nã ngày 18/4/2017, tạm giữ ngày 18/4/2017, tạm giam ngày 21/4/2017; Bị cáo đang bị tạm giam. Có mặt.

người bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1983.

Trú tại: Tổ dân phố 12, , thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai . Vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần T, sinh năm 1979. Trú tại: Tổ dân phố 3 , thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Ngọc K bị Viện kiểm sát nhân  dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố về hành  vi phạm tội như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 30/3/2010, Nguyễn Văn H (Đ) cùng Lê Minh Th và Nguyễn Ngọc K cùng nhau ngồi uống rượu tại khu vực ngã ba R thuộc  thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai. Lúc này, Nguyễn Ngọc K nói: “Tí nữa uống rượu xong thì tụi mình đi dạo xem nhà ai có tài sản gì thì lấy bán kiếm ít tiền tiêu xài” thì tất cả đồng ý. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc K cùng Nguyễn Văn H và Lê Minh Th cùng nhau đi bộ trên Quốc lộ 14 hướng về tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn H đã nhặt được đoạn cây sắt tròn dài khoảng 30 cm (một đầu tròn, một đầu nhọn). Khi đi đến tiệm máy vi tính của anh Nguyễn Văn D, thuộc tổ dân phố 12, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai thì tất cả nhìn thấy tiệm máy vi tính đã khóa cửa nhưng bên trong đang bật điện sáng. Lúc này, Lê Minh Th đứng cách 07 mét để cảnh giới, Nguyễn Ngọc K cầm đoạn cây sắt tròn dài khoảng 30 cm (một đầu tròn, một đầu nhọn) cạy ổ khóa mở được cửa rồi đứng ở ngoài cửa cảnh giới, còn Nguyễn Văn H cùng Lê Minh Th đi vào tiệm máy vi tính của anh Nguyễn Văn D trộm cắp được chiếc máy vi tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Toshiba Satellite L510 rồi cùng nhau đi ra ngoài. Sau đó, cùng nhau mang chiếc máy vi tính xách tay trộm cắp được về nhà Lê Minh Th cất giấu. Đến ngày 31/3/2010, Lê Minh C (là anh của Lê Minh Th) hỏi: “máy tính ở đâu?” thì Lê Minh Th trả lời: “Máy tính khi tối đi ăn trộm được”. Đến ngày 01/4/2010, Lê Minh Th cùng Lê Minh C đã mang chiếc máy vi tính xách tay trộm cắp được bán cho anh Trần T được 5.000.000 đồng, khi mua máy vi tính anh T có hỏi: “máy tính ở đâu? thì  Th trả lời: “máy tính của K bị kẹt tiền nên bán” nên anh T đã đồng ý mua mà không biết đây là tài sản trộm cắp được mà có.  Lê Minh Th được ăn chia 1.200.000 đồng, Nguyễn Văn H 1.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc K 1.600.000 đồng và Lê Minh C 1.000.000 đồng, còn lại 200.000 đồng đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã tiến hành điều tra, bắt giữ được Nguyễn Văn H, Lê Minh Th và Lê Minh C; còn Nguyễn Ngọc Kh đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 18/4/2017 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.

Ngày 6/8/2010, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai kết luận: Chiếc máy vi tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Toshiba Satellite L510, chưa sử dụng, trị giá 8.870.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 23/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1, 2Điều 46; Điều 33 Bộ luật  hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Kh từ  24  đến 36 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 30/3/2010, Nguyễn Ngọc K đã cùng Nguyễn Văn H và Lê Minh Th trộm cắp chiếc máy vi tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Toshiba Satellite L510, trị giá 8.870.000 đồng của anh Nguyễn Văn D. Sau đó, đã nói cho Lê Minh C biết là tài sản trộm cắp được mà có rồi cùng nhau mang đi bán cho anh Trần T được 5.000.000 đồng và chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng bọn.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, bị cáo và đồng bọn chỉ rủ rê và cùng nhau thực hiện tội phạm. Trong đó, Bị cáo K là người rủ rê, khởi xướng và tham gia trộm thực hiện tội phạm một cách tích cực, bị cáo được ăn chia 1.600.000 đồng.  Sau khi phạm tội, đã bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Bị cáo đã có hai tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội “Trộm cắp tài sản”, nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm phạm tài sản của công dân được nhà nước và pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nguyên nhân động cơ phạm tội là do bản tính tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng, thoả mãn những nhu cầu thấp hèn của bản thân.  Bị cáo có nhân thân xấu nên việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại được người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn H và Lê Minh Th đã được xét xử tại Bản án số: 30/2011/HSST ngày 06/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nên miễn xét.

Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Lê Minh C đã được xét xử tại Bản án số: 54/2012/HSST ngày 29/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nên miễn xét.

Đối với anh Trần T là người mua chiếc máy vi tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Toshiba Satellite L510 nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp được mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không đề cập xử lý là phù hợp.

Về dân sự: Sau khi bị bắt, Nguyễn Ngọc K đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 1.600.000 đồng bao gồm tiền chi phí sửa chữa ổ khóa của tiệm máy vi tính, tiền công đi tìm máy vi tính, anh Nguyễn Văn D không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án số: 30/2011/HSSTngày 06/4/2011  của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nên miễn xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà Nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội ”Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều  138; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo  Nguyễn Ngọc K 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị bắt 18/4/2017.

2. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ, phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà Nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường và hình phạt đối với bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền khánh cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:47/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Sê - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về