Bản án 47/2017/HSST ngày 24/08/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 47/2017/HSST NGÀY 24/08/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 24 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2017/HSST, ngày 06/7/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2017/HSST-QĐ,  ngày 09/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1973 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1938; có chồng tên Hồ Văn T (chết); có 01 người con sinh năm 1994; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 53/2012/HSST ngày 18/9/2012 Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 (bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù về tội “đánh bạc”; Bản án số 02/2016/HSST ngày 06/01/2016, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “đánh bạc”; Bị cáo tại ngoại; Bi cao có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Châu Thị Kim L, sinh năm 1965; Có mặt.

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2. Nguyễn Thị Bạch H, sinh năm 1961; Có mặt.

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

3. Trần Thị Đ, sinh năm 1958; Có mặt.

Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

4. Nguyễn Anh M, sinh năm 1955; Có mặt.

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18/02/2017, Nguyễn Thị T, Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ đến chơi tại nhà Nguyễn Anh M thuộc ấp A, xã B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T, L, H, Đ cùng nhau chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Bài tứ sắc”, mỗi ván đánh từ 15.000đ (mười lăm ngàn đồng) đến 30.000đ (ba mươi ngàn đồng). Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, Công huyện Phú Giáo phát hiện lập biên bản vi phạm quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ số tiền 440.000đ (bốn trăm bốn chục ngàn đồng), 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 08 cây bài tứ sắc hình con rết, 36 cây đũa tre đã bị cắt một nửa, 40 lá bài tứ sắc được gấp lại, 01 cái mền bằng vải có màu xanh.

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Thị T đem theo 3.180.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 120.000 đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang thu giữ 3.180.000 đồng trên người của T.

Châu Thị Kim L sử dụng số tiền 450.000 đồng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang thu giữ 330.000 đồng trên người của L

Nguyễn Thị Bạch H đem theo số tiền 1.560.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 560.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân, không rõ thắng thua. Khi Công an bắt quả tang thu giữ 1.500.000 đồng trong người của H Trần Thị Đ đem theo số tiền 3.260.000 đồng nhưng chỉ sử dụng số tiền 260.000 đồng để đánh bạc, số tiền 3.000.000 đồng Đ không sử dụng để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang thu giữ 3.000.000 đồng trong người của Đ.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị T, Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ dùng để đánh bạc là 1.390.000 đồng bao gồm số tiền 440.000 đồng thu tại chiếu bạc, số tiền 950.000 đồng thu giữ trên người T, L, H.

Tại bản Cáo trạng số 39/QĐ–KSĐT ngày 03/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội, xử lý vật chứng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 04 (bốn) đến 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18/02/2017, tại nhà Nguyễn Anh M thuộc ấp A, xã B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương bị cáo Nguyễn Thị T đã cùng với Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Bài tứ sắc”, mỗi ván đánh từ 15.000đ (mười lăm ngàn đồng) đến 30.000đ (ba mươi ngàn đồng). Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, Công huyện Phú Giáo phát hiện lập biên bản vi phạm quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ số tiền 440.000đ (bốn trăm bốn chục ngàn đồng), 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 08 cây bài tứ sắc hình con rết, 36 cây đũa tre đã bị cắt một nửa, 40 lá bài tứ sắc được gấp lại, 01 cái mền bằng vải có màu xanh.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận: Nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo công bố tại phiên tòa giống với Cáo trạng mà bị cáo đã nhận và phù hợp với diễn biến sự việc, hành vi của bị cáo.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tội “Đánh bạc” có thay đổi về cấu thành tội phạm (thay đổi về trị giá tiền hay hiện vật dùng vào việc đánh bạc trái phép). Cụ thể khoản 1 Điều 321 của Bộ luật mới này quy định: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Tuy Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 chưa có hiệu lực pháp luật nhưng quy định này có lợi cho bị cáo nên căn cứ vào khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để áp dụng khi xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tổng số tiền Nguyễn Thị T, Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ dùng để đánh bạc trái phép là 1.390.000đ (một triệu ba trăm chín chục ngàn đồng), số tiền này chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ nên Công an huyện Phú Giáo ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật. Đối với Nguyễn Thị T, do bị cáo đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nên với hành vi nêu trên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Với các tình tiết của vụ án được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hành vi tham gia đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Bị cáo ý thức được rằng đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác và pháp luật sẽ xử lý nghiêm loại tội phạm này nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo Tiết vào các năm 2012, 2016 đã bị kết án, xử phạt tù về tội “Đánh bạc”, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải phấn đấu, sửa chữa sai phạm nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết để Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương)nên k hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

Số tiền 3.180.000 đồng của Nguyễn Thị T, trong đó 120.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 03/3/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã trả lại cho bị cáo T số tiền 1.500.000 đồng, còn lại số tiền 1.560.000 đồng không sử dụng để đánh bạc cần trả lại cho bị cáo T Số tiền 1.500.000 đồng của Nguyễn Thị Bạch H, trong đó 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước, số tiền 1.000.000 đồng không sử dụng để đánh bạc cần trả lại cho Nguyễn Thị Bạch H.

Số tiền 3.000.000 đồng của Trần Thị Đ, ngày 03/3/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã trả lại cho Trần Thị Đ số tiền 1.500.000 đồng, còn lại số tiền 1.500.000 đồng không sử dụng để đánh bạc cần trả lại cho Trần Thị Đ.

Số tiền 330.000 đồng của Châu Thị Kim L sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 08 cây bài tứ sắc hình con rết, 36 cây đũa tre đã bị cắt một nữa, 40 lá bài tứ sắc được gấp lại, 01 cái mền bằng vải có màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Anh M cho các đối tượng Nguyễn Thị Bạch H, Trần Thị Đ, Châu Thị Kim L, Nguyễn Thị T đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền tại nhà của mình nhưng không thu lợi bất chính, hành vi của Nguyễn Anh M không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 08/6/2017, Công an huyện Phú Giáo có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh M là phù hợp quy định pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các tình tiết khác đối với bị cáo, về xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu, sung quỹ nhà nước: Số tiền 440.000đ (bốn trăm bốn chục ngàn đồng) thu giữ tại chiếu bạc; số tiền 120.000đ (một trăm hai chục ngàn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị T; số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) của Nguyễn Thị Bạch H; số tiền 330.000đ (ba trăm ba chục ngàn đồng) của Châu Thị Kim L.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu chục ngàn đồng).

Trả lại cho Nguyễn Thị Bạch H số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

Trả lại cho Trần Thị Đ số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng)

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 08 cây bài tứ sắc hình con rết, 36 cây đũa tre đã bị cắt một nữa, 40 lá bài tứ sắc được gấp lại, 01 cái mền bằng vải có màu xanh.

(Thể hiện tại Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/7/2017 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo với Kho bạc nhà nước huyện Phú Giáo và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2017 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo với Chi cục THADS huyện Phú Giáo)

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buôc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.


42
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về