Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 17/06/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 47/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 17 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1978; thường trú: Số 326/2A khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Tuấn C, sinh năm 1978; thường trú: Số 7/2A khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc H và anh Võ Tuấn C sau thời gian tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng 06 năm thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh B (nay là phường T, thị xã D, tỉnh B) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 053/KH, quyển số 07, cấp ngày 10/7/2001. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C thường xuyên có những lời lẽ xúc phạm, không tôn trọng chị H, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị H và anh C tuy sống chung một nhà nhưng tình cảm đã phai nhạt, mỗi người tự lo cho cuộc sống của mình, không quan tâm, chăm sóc nhau. Đến đầu năm 2018, chị H và anh C đã sống ly thân với nhau. Anh C về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh C nên yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung tên Võ Tuấn P, sinh ngày 12/6/2002 và Võ Thị Trúc L, sinh ngày 09/9/2006. Hiện con chung đang sống chung cùng với chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 03/4/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2019, anh Võ Tuấn C trình bày: Anh C thống nhất với phần trình bày của chị H về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, thời gian sống chung. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh C cho rằng lý do anh có những lời lẽ xúc phạm chị H và vợ chồng thường xuyên cãi nhau là do chị H thay đổi tính tình, ăn mặc không phù hợp với độ tuổi của mình, ngoài ra anh C còn nghi ngờ chị Hiếu không chung thủy với anh C. Anh C và chị H tuy sống chung nhà nhưng mỗi người tự lo cho cuộc sống của mình, không quan tâm, chăm sóc nhau. Anh C đã về cha mẹ sống từ tháng 02/2019. Tuy nhiên, anh C xác định vẫn còn tình cảm với chị H nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Thống nhất như trình bày của chị H. Hiện các con đang sống chung với mẹ. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh C đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, anh C không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 13/6/2019/2019, nguyên đơn có đơn yêu câu giải quyết văng măt. Bị đơn anh Võ Tuấn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 29/5/2019 và ngày 17/6/2019 nhưng anh Võ Tuấn C vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc H và anh Võ Tuấn C tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh B (nay là phường T, thị xã D, tỉnh B) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 053/KH, quyển số 07, cấp ngày 10/7/2001 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

[3] Chị H và anh C xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào đầu năn 2018, mặc dù giữa chị H và anh C không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng nhưng cả anh C và chị H đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị H và anh C đã không còn duy trì quan hệ vợ chồng đã hơn 01 năm, anh chị tuy sống chung nhà nhưng không quan tâm, chăm sóc nhau. Từ tháng 02/2019, anh C đã về nhà cha mẹ sống đến nay. Anh C cho rằng vẫn còn tình cảm với chị H nhưng anh C không có phương án nào để cải thiện, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh C đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh C không có kết quả.

[4] Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tòa án đã tạo điều kiện để chị H và anh C hòa giải đoàn tụ nhưng anh C không đến Tòa án cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị H yêu cầu ly hôn với anh C là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, trong thời gian trước đây và hiện nay con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Mặt khác các cháu hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Tại bản tự khai ngày 19/4/2019, hai cháu Võ Tuấn P và Võ Thị Trúc L đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2019 thể hiện anh C đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, anh C không cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[7] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh B.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Ngọc H đối với anh Võ Tuấn C về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Tuấn C.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Tuấn P, sinh ngày 12/6/2002 và Võ Thị Trúc L, sinh ngày 09/9/2006 cho chị Võ Thị Ngọc H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Võ Thị Ngọc H không yêu cầu anh Võ Tuấn C cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Võ Thị Ngọc H và anh Võ Tuấn C đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trường hợp anh Võ Tuấn C lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc chị Võ Thị Ngọc H nuôi con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Võ Thị Ngọc H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn đươc khấu trư hết vào tiền tạm ứng án phí đa nôp theo biên lai sô 0028132 ngày 05/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 17/06/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:47/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về