Bản án 47/HNGĐ-ST ngày 31/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 47/HNGĐ-ST NGÀY 31/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1998;

Địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Võ Tấn P, sinh năm 1987;

Địa chỉ: C19/1, ấp C, xã D, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 3 năm 2018 của chị Trần Thị Thu T và các lờikhai của chị T trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Chị và anh Võ Tấn P chung sống vợ chồng từ tháng 8/2016, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn ngày 28/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh P chung sống hạnh phúc được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế. Ngoài ra, giữa chị và anh P không hợp nhau về quan điểm, tính cách nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất hòa, không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị và anh P sống ly thân từ tháng 3/2017 cho đến nay. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có nên không yêucầu Tòa án giải quyết. Không có ai khác nợ lại vợ chồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Chị T vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh P là có căn cứ theo các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Xét thấy mục đích hôn nhân của chị T và anh P không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh P. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, chị T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Thu T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Võ Tấn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh P theo quy định tại cácĐiều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu T và anh Võ Tấn P chung sống vợ chồng từ tháng8/2016, do tư nguyên , có đăng ký kết hôn . Vì vậy , hôn nhân cua anh , chị là hợp pháp , được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng vợ chồng chung sống được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế và do không hòa hợp về tính cách, quan điểm nên cuộc sống chung không có hạnh phúc. Quá trình thu thập chứng cứ thể hiện chị T và anh P chỉ sống chung được 06 tháng thì ly thân cho đến nay. Mặc dù mâu thuẫn giữa chị T và anh P không lớn nhưng trong thời gian vợ chồng sống ly thân cả chị T và anh P đều không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Điều đó chưng to anh không con tôn trong va quan T đến quan hệ vợ chồng , xét thây mục đích hôn nhân giữa chị T và anh P không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Chị T và anh P chung sống không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

 [4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

 [6] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điêu 53, Điêu 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Chấp nhận yêu câu ly hôn cua chị Trần Thị Thu T đối với anh Võ Tấn P. Chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Võ Tấn P.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tai san chung và nợ chung : Chị T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019473 ngày 12 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhân chị T đã nộp xong tiền án phí.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.


112
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/HNGĐ-ST ngày 31/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:47/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòa Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về