Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 25/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 48/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/05/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Ấp 4, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Tổ 1, khu phố A, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Doãn Bá T, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; tạm trú: Tổ 1, khu phố A, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà Võ Thị N và ông Doãn Bá T có thời gian tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân vào năm 2008. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 197, quyển số 01/2007 ngày 14/01/2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T cá độ bóng đá, không quan tâm chăm sóc gia đình, con cái, dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vả. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau. Bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Doãn Bá T.

Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung tên Doãn Thị Minh Th, sinh ngày 15/5/2009. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.

Bị đơn ông Doãn Bá T đã được Tòa án nhân dân thị xã T đã triệu tập ông T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ tham gia phiên hòa giải lần thứ hai và triệu tập thm gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.

Theo kết quả xác minh tại Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì ông Doãn Bá T có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Tổ 1, khu phố A, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Hiện nay ông T vẫn còn sinh sống tại địa phương.

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương về mâu thuẫn vợ chồng của bà N và ông T thì chính quyền địa phương không rõ.

Con chung của bà N và ông T là Doãn Thị Minh Th có văn bản trình bày ý kiến: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu Th có nguyện vọng được sống với mẹ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân thị xã T đã triệu tập bị đơn ông Doãn Bá T tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Võ Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Doãn Bá T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị N và ông Doãn Bá T có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận kết hôn số 197, Quyển số 01/2007 ngày 14/01/2008, là hôn nhân hợp pháp.

Bà N xác định từ năm 2017 đến nay vợ chồng không còn sống chung và không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T đã được Tòa án nhân dân thị xã T tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, kết quả công khai chứng cứ nhưng ông T không đến Tòa án cho thấy ông T không thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và ông T đã từ bỏ quyền chứng minh, phản bác của mình. Tại Tòa án, bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T, không còn muốn chung sống với ông T. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn không đạt được, việc bà N yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

[2] Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi con chung Doãn Thị Minh Th, sinh ngày 15/5/2009. Xét thấy, hiện tại con chung đang sống cùng bà N, bà N có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và con chung có nguyện vọng sống cùng bà N. Do vậy, yêu cầu được nuôi con của bà N là có căn cứ chấp nhận quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện của bà N.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị N phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với bị đơn ông Doãn Bá T như sau:

- Về hôn nhân: Bà Võ Thị N được ly hôn với ông Doãn Bá T.

- Về con chung: Giao con chung Doãn Thị Minh Th, sinh ngày 15/5/2009 cho bà Võ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Võ Thị N và ông Doãn Bá T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Ông T được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013779 ngày 16/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 25/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:48/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về