Bản án 49/2019/DS-ST ngày 24/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 49/2019/DS-ST NGÀY 24/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1962; hộ khẩu thường trú: Số 18/14 khu phố 4A, thị trấn D, huyện D1, tỉnh B. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: Số 28, đường Độc Lập, khu phố 2, thị trấn D, huyện D1, tỉnh B.

Vắng mặt lần 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2019, những tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình tố tụng cũng như lời trình bày tại phiên tòa của bà H thể hiện như sau:

Giữa bà H và ông T có mối quan hệ quen biết. Nên vào ngày 07/8/2018, ông T có vay của bà H số tiền 120.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 9999 (tương đương số tiền 37.000.000 đồng) để về làm vốn làm ăn. Bà H đồng ý cho ông T vay số tiền trên. Ngày 15/9/2018, ông T tiếp tục vay của bà H số tiền 50.000.000 đồng. Khi vay, ông T có viết giấy vay tiền cho bà H và ông T tự ký tên và ghi họ tên. Khi vay, hai bên không thỏa thuận lãi suất cũng như thời hạn trả trong giấy. Tuy nhiên, hai bên có thỏa thuận miệng với nhau là ông T trả lãi hàng tháng là 2% và khi nào bà H cần tiền thì báo cho ông T biết. Bà H chỉ nhận được 3 tháng tiền lãi. Cuối năm 2018, bà H cần tiền và yêu cầu ông T trả nợ. Ông T cứ hẹn nhiều lần nhưng không trả, cố tình lẫn tránh và kéo dài thời gian cho đến nay. Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán số tiền 207.000.000 đồng, cụ thể yêu cầu ông T trả 170.000.000 đồng và 01 lượng vàng 9999; không yêu cầu trả tiền lãi.

Chứng cứ mà bà H cung cấp: Giấy mượn tiền ngày 07/8/2018 và bên dưới có ghi 15/9/2018 (bản photo). Chứng cứ mà Tòa án thu thập: Kết luận giám định số 255/GĐ-PC09 ngày 24/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Bị đơn ông T vắng mặt trong tất cả quá trình tố tụng:

Ông T đã được Tòa án tiến hành giao Thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, các giấy triệu tập, niêm yết công khai tại nhà (cha mẹ ruột của ông T), giao các giấy triệu tập cho mẹ ruột của ông Thành là bà Đoàn Thị Hồng H; niêm yết tại trụ sở UBND thị trấn Dầu Tiếng và tại trụ sở Tòa án, nhưng ông T vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng (ông Hoàng Anh) có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự.

Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn; riêng bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Phiên tòa diễn ra đúng thành phần tham gia tố tụng.

Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Quan điểm xử lý vụ án: Trên cơ sở kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương xác định các chữ ký, chữ viết trên giấy vay nợ là do ông Nguyễn Viết T ký, viết ra. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp trong vụ án:

Trên cơ sở chứng cứ là giấy vay tiền: Giấy mượn tiền ngày 24/7/2018 và ngày 15/9/2018 mà nguyên đơn cung cấp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền và vàng. Hội đồng xét xử xác định vụ kiện thuộc tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nội dung tranh chấp là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 07/8/2018, ông T có ký tên, ghi họ tên bên dưới “giấy mượn tiền” để vay của bà H số tiền và vàng như sau: 01 cây vàng và 120.000.000 đồng. Tiếp theo bên dưới giấy nợ có ghi ngày 15/9/2018 có nhận thêm 50.000.000 đồng, ông T ghi và ký ghi họ tên. Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình bà Đoàn Thị Hồng H (là mẹ của ông Nguyễn Viết T) có địa chỉ cư trú tại khu phố 2, thị trấn D, huyện D1, tỉnh B; xác minh địa chỉ cư trú của ông T để tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông T. Tuy nhiên ông T vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để thực hiện quyền, nghĩa vụ của ông T. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Viết T ghi dưới mục giấy “biên mượn tiền” ngày 07/8/2018. Kết quả: Tại kết luận số 255/GĐ-PC09 ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định chữ ký, chữ viết Nguyễn Viết T ghi dưới mục giấy “giấy mượn tiền” ngày 07/8/2017 so với chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Viết T trong các tài liệu mẫu là do một người ký và viết ra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, ông T có vay của bà H số tiền 170.000.000 đồng và 01 cây vàng loại 9999. Giấy nợ không ghi rõ 01 cây vàng loại gì. Bà H cung cấp bao đựng vàng của tiệm vàng Minh Tân để xác định là vàng loại 9999. Tòa án không thu thập được lời khai của T do ông T vắng mặt. Giá vàng loại 9999 (SJC) tại thời điểm xét xử được công bố trên trang mạng của Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam là 42.000.000 đồng/01 lượng.

Lãi suất, thời hạn trả nợ: Trong giấy biên nhận các bên có thể hiện thỏa thuận lãi suất 2%/tháng; không thể hiện thời hạn trả nợ. Bà H khai rằng nhận được 03 tháng tiền lãi và thỏa thuận miệng với nhau là khi nào bà H cần thì ông T trả lại. Bà H không khởi kiện yêu cầu ông T trả tiền lãi nên không xem xét. Tòa án không thu thập được lời khai của ông T do ông T vắng mặt nên chấp nhận theo lời khai của bà H.

Đến cuối năm 2018 đầu năm 2019, bà H đòi lại tiền nhưng ông T không trả. Như vậy ông T đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Bà H đã nộp chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng). Ông T phải chịu chi phí này. Ông T phải trả cho bà H số tiền 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng).

[5] Về án phí: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của bà Hương được chấp nhận. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho bà H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 26, 235, 243, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố Tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H đối với ông Nguyễn Viết T.

Buộc ông Nguyễn Viết T phải trả cho bà Trương Thị H số tiền 170.000.000 (một trăm bảy mươi triệu) đồng và 01 (một) lượng vàng loại 9999.

Sau khi án có hiệu lực, kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng ông T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về chi phí tố tụng: Bà H đã nộp tạm ứng chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng). Ông T phải chịu chi phí này. Ông T phải trả cho bà H số tiền 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng).

3. Về án sơ dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Viết T chịu 10.600.000 đồng (mười triệu sáu trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Trương Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.175.000 đồng (năm triệu một trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2016/0012902 ngày 29/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 24/9/2019).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/DS-ST ngày 24/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:49/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về