Bản án 49/2019/HS-ST ngày 15/07/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 49/2019/HS-ST NGÀY 15/07/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 17/5/1948, tại: Xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản V, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 3/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1913 (chết năm 1991) và con bà Lò Thị T (đã chết); có vợ là Lò Thị H, sinh năm 1942 và có 08 người con, con lớn nhất sinh năm 1965, con nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2019, đến ngày 24/4/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo bị tạm giữ 06 ngày). Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Bà Lê Thị Xuân, Luật sư - Thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Vắng mặt.

2. Họ và tên: Lò Văn M; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03/5/1978, tại: Xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản V, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1948 và con bà Lò Thị H, sinh năm 1942; có vợ là Lò Thị B, sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2018) và có 01 người con, sinh năm 2006; tin án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2019, tạm giam ngày 24/4/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M: Ông Bùi Đình M, Luật sư - Thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 19 giờ ngày 17/4/2019, bị cáo Lò Văn M đi bộ ra Quốc lộ 279 thuộc bản B, xã C, huyện T chơi thì gặp một người đàn ông M không biết tên, tuổi, địa chỉ nhìn giống người nghiện, bị cáo M hỏi người đó có ma túy bán thì bị cáo mua. Qua trao đổi, bị cáo M mua được của người đó 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu xanh với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Bị cáo M giấu gói Heroine trong túi quần đi về nhà cất giấu dưới đệm ngủ nhằm mục đích để sử dụng. Khoảng 06 giờ ngày 18/4/2019, bị cáo M lấy gói Heroine ra dùng dao lam cắt một ít và sử dụng bằng hình thức chích. Sau đó bị cáo M gói số Heroine còn lại như cũ, buộc thêm một dây chun (dây nịt) màu vàng giấu dưới đệm ngủ của bị cáo M và đi ra Trung tâm y tế T uống thuốc ARV. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, có một nam thanh niên dân tộc Thái khoảng 20 tuổi đến nhà tìm gặp bị cáo M để mua ma túy của bị cáo M nhưng bị cáo M không có nhà, gặp bị cáo Lò Văn T là bố đẻ của bị cáo M. Người đó nói lên cơn nghiện và hỏi bị cáo T có biết bị cáo M để ma túy chỗ nào bán cho người đó một ít. Bị cáo T tìm thấy gói Heroine của bị cáo M giấu dưới đệm ngủ. Người thanh niên đó đưa cho bị cáo T một tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Bị cáo T nhận tiền và hỏi người đó mua hết số tiền hay mua bao nhiêu, người đó nói mua 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Bị cáo T dùng tay cấu lấy một ít Heroine, xé một mảnh nilon xanh từ gói Heroine gói lại và lấy 150.000 đồng ra đưa cho người đó. Số Heroine còn lại bị cáo T gói lại và cất vào chỗ cũ. Hồi 09 giờ 20 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến nhà bị cáo T yêu cầu bị cáo T có gì liên quan đến ma túy thì giao nộp, Lò Văn T đã lấy gói Heroine có khối lượng 2,11 gam của bị cáo M giao nộp cho tổ công tác. Cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị cáo T không thu giữ, tạm giữ gì. Trong khi cơ quan công an đang làm việc tại nhà bị cáo T, bị cáo Lò Văn M về và thừa nhận gói Heroine bị cáo T giao nộp là của bị cáo M. Cơ quan điều tra đã dẫn giải các bị cáo về trụ sở công an huyện Tuần Giáo để điều tra, làm rõ.

Tại bản Kết luận giám định số: 444/GĐ-PC09 ngày 29/4/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn T gửi giám định là ma tuý: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn T là 2,11 gam”.

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn M và bị cáo Lò Văn T khai nhận: Ngày 17/4/2019 bị cáo Lò Văn M mua 01 gói Heroine với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) về nhà cất giấu dưới đệm ngủ của bị cáo M nhằm mục đích để sử dụng. Khi bị cáo M vắng nhà bị cáo Lò Văn T đã lấy gói Heroine của M cấu ra một ít bán cho một người nghiện với giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 18/4/2019, tại nơi ở của bị cáo T, khi tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo yêu cầu, bị cáo Lò Văn T tự nguyện giao nộp 2,11 gam Heroine của bị cáo M cho tổ công tác, đồng thời bị cáo Lò Văn M đã thừa nhận gói Heroine bị cáo T giao nộp là của bị cáo M.

Tại bản Cáo trạng số: 56/CT- VKS ngày 13 tháng 6 năm 2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm o, p, s, v Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù và không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 24 tháng đến 30 tháng tù và không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 02 gam Heroine đựng trong túi nilon trắng gắn kín, 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 dây nịt màu vàng; đối với số tiền 200.000đ Công an đã tạm giữ của bị cáo Lò Văn T vào ngày 18/4/2019, trong đó có 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) là tiền bán ma túy mà có, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền; số tiền còn lại 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo T. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm o, p, s, v Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; ngoài ra đề nghị áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế. Nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và được hưởng án treo, tự cải tạo bản thân dưới sự quản lý, giám sát của địa phương; không phạt bổ sung bằng tiền và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế. Nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án khởi điểm của Kiểm sát viên đã đề nghị, không phạt bổ sung bằng tiền và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của các bị cáo: Ngày 17/4/2019 bị cáo Lò Văn M mua 01 gói Heroine với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) về nhà cất giấu dưới đệm ngủ của bị cáo M nhằm mục đích để sử dụng. Khi bị cáo M vắng nhà bị cáo Lò Văn T đã lấy gói Heroine của M cấu ra một ít bán cho một người nghiện với giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 18/4/2019, tại nơi ở của bị cáo T, khi tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo yêu cầu, bị cáo Lò Văn T tự nguyện giao nộp 2,11 gam Heroine của bị cáo M cho tổ công tác, bị cáo Lò Văn M đã thừa nhận gói Heroine bị cáo T giao nộp là của bị cáo M. Hành vi của bị cáo Lò Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lò Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lò Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của các bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm M trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Văn T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội ở tuổi 71, bị cáo bị ngã gẫy chân ở tuổi cao, dẫn đến xương không liền được, hằng tháng được hưởng chế độ người khuyết tật nặng, bản thân bị cáo được UBND tỉnh Điện Biên tặng Bằng khen và bố đẻ bị cáo được Nhà nước thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm o, p, s, v Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn T được gia đình nuôi cho học hết lớp 3 ở nhà lao động sản xuất, năm 1964 kết hôn, từ năm 1966 đến năm 1968 tham gia thanh niên xung phong xây dựng thủy điện Búng Lao, Mường Ảng; năm 1972 tham gia tổng động viên phục vụ chiến trường tại Lào; năm 1973 tham gia dân công mở đường Mường Tè, Lai Châu; từ năm 1974 trở về sinh sống tại xã Chiềng Đông huyện Tuần Giáo cho đến nay. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Văn M thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn M sinh ra và lớn lên tại xa Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Được gia đình nuôi dậy cho ăn học đến hết lớp 9/12 sau đó ở nhà lao động sản xuất; nghiện chất ma túy từ năm 1998 cho đến nay; năm 2005 kết hôn với chị Lò Thị Biên, đến năm 2018 ly hôn. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

[4] Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt: Bị cáo Lò Văn T phạm tội lần đầu và có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào Điều 54 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử cần quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Lò Văn T.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của các bị cáo đều sản xuất nông nghiệp, sinh sống tại xã có nền kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 24 tháng đến 30 tháng tù và không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần chấp nhận.

[7] Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T đề nghị: Cho bị cáo T hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị cho bị cáo T được hưởng án treo là chưa thật phù hợp với tình hình an ninh, chính trị tại địa phương; đặc điệt với tội phạm về ma túy tại địa bàn xã Chiềng Đông nói riêng, huyện Tuần Giáo nói chung đang ngày một gia tăng, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M đề nghị: Cho bị cáo M hưởng mức án khởi điểm của Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Đối với người đàn ông bị cáo Lò Văn M khai đã bán Heroine cho bị cáo vào ngày 17/4/2019. Bị cáo M khai không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác mình làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với người thanh niên bị cáo T khai đã bán 01 gói Heroine cho người thanh niên này vào ngày 18/4/2019, do bị cáo T không biết tên tuổi địa chỉ. Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với số tiền 70.300.000đ Công an đã tạm giữ của chị Lò Thị I (con gái bị cáo T), không liên quan đến vụ án. Ngày 06/5/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền đồng cho chị I là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 02 gam Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng và 01 mảnh nilon màu xanh, 01 dây nịt màu vàng cần tịch thu để tiêu hủy; đối với số tiền 200.000đ Công an đã tạm giữ của bị cáo Lò Văn T vào ngày 18/4/2019, trong đó có 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) là tiền bán ma túy mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

[11] Án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm o, p, s, v Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự (áp dụng đối với bị cáo Lò Văn T). Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (áp dụng đối với bị cáo Lò Văn M). Điểm b, c Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, b Khoản 2, 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ Khoản 1 Điều 12Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 18 (mười tám) tháng tù, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành tiếp là 17 (mười bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt hoặc tự giác đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lò Văn M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2019.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 02 gam Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng và 01 mảnh nilon màu xanh, 01 dây nịt màu vàng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Lò Văn T số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

- Về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15/7/2019).


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HS-ST ngày 15/07/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:49/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 15/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về