Bản án 497/2019/HS-PT ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 497/2019/HS-PT NGÀY 11/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ L số 326/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2019/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo: LÊ VĂN T, sinh ngày 01/6/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C A, xã C L, huyện Ba Vì, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn T (đã mất) và bà Nguyễn Thị N; có vợ Bùi Thị T và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con bé nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 39/2009/HSST ngày 10/4/2009 TAND huyện Ba Vì xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 13 tháng 14 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/12/2018 đến ngày 11/12/2018, hiện tại ngoại có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Trung Nguyên - Luật sư Văn phòng luật sư Hà Nguyên thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/12/2018, Lê Văn T điều khiển xe máy mang nhãn hiệu SYM Angel BKS: 29R1 - 02XX đi đến địa chỉ nơi nhận công trình xây dựng mới tại đường Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi đi qua số nhà 80 đường Mỹ Đình T nhìn thấy chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY của chị Hà Thị L đang dựng trước cửa không có người trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy trên. T điều khiển xe đi qua cách vị trí xe máy của chị L khoảng 20 mét thì dừng xe, để dựng xe máy SYM Angle BKS 29R1 - 02XX của mình lại rồi đi bộ quay lại nơi để xe máy Honda Dream, T dùng chìa khóa xe máy của mình cắm vào ổ khóa điện xe Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY của chị L và mở được khóa điện của xe. T ngồi lên xe máy, đề nổ máy để rời đi nhưng do xe bị khóa càng nên không di chuyển được. Lúc ấy, chị L ở trong nhà nghe thấy tiếng nổ máy xe và tiếng “Kịch” va chạm của khóa càng với vành xe thì chạy ra phát hiện việc và hô hoán. Thấy vậy T tắt khóa điện, rút chìa khóa và bỏ đi về phía chiếc xe máy của mình thì bị chị L cùng một số người dân giữ lại và báo Tổ công tác của Công an phường Mỹ Đình 2 đến lập biên bản và đưa Lê Văn T về trụ sở để tiến hành làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY; số khung: RLLHA0603W1139301; số máy: HA05E0139311.

- 01 xe mãy nhãn hiệu SYM Angle BKS: 29R1 - 02XX; số khung: VDNFX8MC4T429624; số máy: HB026384.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản của UBND quận Nam Từ Liêm đối với xe máy Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY xác định trị giá tài sản là 5.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra lúc đầu Lê Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, nhưng sau đã thay đổi lời khai do nhầm lẫn nên đã ngồi lên xe của chị Hà Thị L và mở khóa nổ máy. Nhưng căn cứ vào tài liệu điều tra (Bút lục 20; bút lục từ 60 đến 69; bút lục từ 74 đến 78) đủ cơ sở kết luận T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY của chị Hà Thị L.

Ngày 19 tháng 12 năm 2018, Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử L vật chứng số 17 trao trả: 01 xe máy Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY cho chị Hà Thị L là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với xe máy SYM Angle BKS: 29R1 - 02XX Cơ quan điều tra đã xác minh xác định là tài sản của anh Đào Văn X. Do anh X mua lại của ông Nguyễn Đắc S và cho T mượn. Ngày 29 tháng 01 năm 2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 43 trao trả: 01 xe máy SYM Angle BKS: 29R1 - 02XX cho anh Đào Văn X là chủ sở hữu hợp pháp.

Về dân sự: chị Hà Thị L và anh Đào Văn X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2019/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn T 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/12/2018 đến ngày 11/12/2018.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/4/2019 bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi đã ngồi lên xe máy chị Hà Thị L, dùng chìa khóa xe của mình mở nổ xe máy chị L song bị cáo cho rằng bị cáo không có hành vi trộm cắp mà do bị cáo nhầm lẫn nên đã lên nhầm xe chị L. Bị cáo đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhân thân bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn T trình bày luận cứ bào chữa cho rằng bị cáo có lời khai rất phù hợp về việc bị cáo bị nhầm lẫn giữa hai xe, bị cáo không có ý thức trộm cắp; Cơ quan điều tra chỉ kết luận đề nổ, chưa điều tra đầy đủ, chưa xem xét xe bị hại dựng chân chống nào, bị cáo đã vào số chưa, số mấy; Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, là bố đẻ liệt sĩ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội ban đầu của bị cáo Lê Văn T tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ ngày 11/01/2019 đến nay bị cáo Lê Văn T thay đổi lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo cho rằng không có ý thức trộm cắp tài sản là chiếc xe máy Dream BKS: 29K4 - 98YY của chị Hà Thị L mà do bị cáo tưởng nhầm xe bị cáo đang đi. Tuy nhiên căn cứ vào Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang (BL: 20, 21); Biên bản ghi lời khai (BL: 60 đến 69) và các Bản kiểm điểm do chính bị cáo viết (BL: 74 đến 78) đều khảng định: “Khi phát hiện chiếc xe Honda Dream mầu nâu BKS: 29K4-98YY đang dựng dưới lòng đường trước số 80 đường Mỹ Đình, thuộc phường Mỹ Đình 2. Bị cáo đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đó nên điều khiển xe của mình đi qua chiếc xe đó. Khoảng 20 mét và dựng xe dưới lòng đường rồi đi bộ quay lại và dùng chìa khóa của chiếc xe của của mình cắm vào ổ khóa chiếc xe Dream mở được khóa điện rồi ngồi lên xe nổ máy để đi thì chiếc xe đó đã khóa càng trước nên không đi được”. Những lời khai nhận tội trên của bị cáo Lê Văn T đều phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng. Bị cáo Lê Văn T cho rằng bị nhầm lẫn xe của bị cáo đi là không có cơ sở bởi lẽ về hình thức thì giữa xe của bị cáo đi và xe của chị Hà Thị L hoàn toàn khác biệt về gương chiếu hậu; yếm xe; bộ phận khởi động và khoảng cách giữ hai xe là 20 mét, xe bị cáo được để sau xe ô tô còn trước xe chị Hà Thị L không có xe ô tô. Đối với việc bị cáo cho rằng tại Cơ quan điều tra bị cáo bị bức cung, dùng nhục hình song không đưa ra được tài liệu nào chứng mình cho lời trình bày của mình và sau khi được tại ngoại bị cáo vẫn khảng định là tại cơ quan điều tra không bị đánh đập, đe dọa nên không có căn cứ. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/12/2018, tại trước cửa số nhà 80 đường Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Lê Văn T đã có hành vi lén lút ngồi lên chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29K4 - 98YY trị giá 5.000.000 đồng của chị Hà Thị L, nổ máy để để nhằm mục đích chiếm đoạt. Chính vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật không oan.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quá trình điều tra cấp sơ thẩm đã T hành điều tra đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, tài liệu điều tra đủ căn cứ để quy kết đối với bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”; mặc dù sau này bị cáo thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi phạm tội song đều không có cơ sở chấp nhận. Do vậy đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung của bị cáo Lê Văn T và Luật sư bào chữa cho bị cáo là không căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án; thái độ khai báo không thành khẩn của bị cáo; nhân thân bị cáo Lê Văn T xấu có 01 tiền án đã được xóa án tích; Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội khi có cơ hội và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt 05 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” là đã xem xét làm nhẹ cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm Luật sư bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, là bố đẻ liệt sĩ song mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là đã quá nhẹ cho bị cáo nên không thể xem xét cho bị cáo. Do vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

[4] Bị cáo kháng cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/12/2018 đến ngày 11/12/2018 về tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về án phí: bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


30
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 497/2019/HS-PT ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:497/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:11/07/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về