Bản án 50/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 50/2018/HS-ST NGÀY 30/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo: Kha Văn H - Tên gọi khác: không

Sinh ngày 09 tháng 11 năm 1980 tại xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: bản X, xã BC, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

Dân tộc: Thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Kha Văn D, sinh năm 1949; Con bà: Lô Thị D, sinh năm 1956. Cả ông và bà hiện trú tại bản X, xã BC, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Vợ, con: Chưa có Tiền sự: không Tiền án:

- Bản án số 05/2012/HSST ngày 20/03/2012 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử Kha Văn H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 22/6/2012, chưa được xóa án tích.

- Bản án số 18/2013/ HSST ngày 18/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử Kha Văn H 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 27/6/2014, chưa được xóa án tích.

- Bản án số 49/2015/ HSST ngày 10/12/2015 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử Kha Văn H 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/04/2018, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Kha Văn H: Ông Phạm Thế Kỷ – Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bị hại:

1. Anh Lô Văn S, sinh năm 1977 – Vắng mặt

Địa chỉ: bản TrP, xã BC, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

2. Anh Đặng Văn M, sinh năm 1973 – Có mặt

Địa chỉ: bản Q, xã BC, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Kha Thị Th, sinh năm 1976 - Vắng mặt.

Địa chỉ: bản Đình, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

2. Anh Vi Khăm X, sinh năm 1992 - Vắng mặt.

Địa chỉ: bản B, xã NM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/8/2018, Kha Văn H đi bộ từ nhà mình sang bản TP, xã BC để chơi. Khi đi qua nhà anh Lô Văn S, H thấy nhà anh Sao không có ai nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh Sao để trộm tài sản. H đi về phía bên trái của ngôi nhà, rồi trèo qua vách thưng bằng gỗ vào trong nhà. Khi vào được trong nhà anh Sao, H lục soát trên giường ngủ của anh Sao nhưng không thấy gì, tiếp đó H lục trong chiếc túi để trên đầu giường thì thấy chùm chìa khóa. H lấy chùm chìa khóa đó mở chiếc rương bằng nhôm để trên đầu giường. Khi mở được rương ra, H thấy 04 chiếc vòng tay bằng bạc, 01 cái váy và 02 cái chân váy của dân tộc Thái. Sau khi lấy trộm được số tài sản trên, H đi đến bản Xiềng, xã Bình Chuẩn, cất 01 cái váy và 02 chân váy vào bụi cây bên đường. Sau đó, H đi đến bản Tông, xã Bình Chuẩn thì gặp một người đàn ông không biết tên đang đi xe máy một mình, H xin đi nhờ xe. Khi đi đến bản Khe Quỳnh, xã Xiêng My, huyện Tương Dương, H gặp một người phụ nữ không biết tên và H đã bán 04 chiếc vòng tay bằng bạc vừa trộm được cho người phụ nữ này với số tiền 100.000 đồng. Sau đó H quay về chỗ cất dấu lấy 01 cái váy và 02 chân váy vừa trộm được đem bán cho chị Kha Thị Th ở bản Đình, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông với số tiền 300.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên H đã tiêu xài hết vào việc sử dụng.

Ngoài ra, Kha Văn H còn khai nhận trước đó vào ngày 10/8/2018, lợi dụng sơ hở, không có ai ở nhà, Kha Văn H đã đột nhập vào nhà và lấy trộm của gia đình anh Đặng Văn M trú tại bản Q, xã BC, huyện Con Cuông số tiền 887.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel A256, sau đó H đã bán chiếc điện thoại này cho anh Vi Khăm X ở bản B, xã NM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An lấy 100.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên H cũng đã tiêu xài hết vào việc sử dụng.

Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Đặng Văn M và anh Lô Văn S có đơn trình báo đến ban Công an xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Trên cơ sở xác minh, thu thập tài liệu, ngày 20/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã tổ chức truy tìm và thu hồi được 01 cái váy và 02 chân váy mà Kha Văn H đã trộm cắp của anh Lô Văn S; 01chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel A256 mà Kha Văn H đãtrộm cắp của anh Đặng Văn M.

 Ngày 24/8/2018, cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông ra yêu cầu định giá tài sản số 65 đề nghị Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Con Cuông định giá số tài sản mà Kha Văn H trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Con Cuông kết luận:

- 01 cái điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Masstel A256 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 50.000 đồng

- 01 cái váy Thái đã thêu xong hình mặt trăng và 02( hai) chân váy Thái đãthêu và ghép xong có hình mặt trăng có gia trị tại thời điểm bị mất trộm là 1.750.000 đồng.

- 04( bốn) chiếc vòng tay bằng bạc có trọng lượng 2,5 cây có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị trộm cắp tài sản là 2.800.000 đồng

Cáo trạng số: 52/CT-VKS - CC ngày 10/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố bị cáo Kha Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; Truy thu số tiền 500.000đ tại bị cáo để sung công quỹ Nhà nước; Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến bào chữa: Đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa, nhận thức về pháp luật còn hạn chế; gia đình bị cáo có bố là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo đượchưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị cáo; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Kha Văn H đã khai nhận:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/8/2018, Kha Văn H lợi dụng chủ nhà đi vắng đã có hành vi đột nhập vào nhà anh Lô Văn S ở bản Tung Poọng, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An lấy trộm 04 chiếc vòng tay bạc, 01 cái váy và 02 chân váy có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 2.750.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 7 giờ, ngày 10/8/2018, lợi dụng sơ hở, không có ai ở nhà, Kha Văn H đã đột nhập vào nhà và lấy trộm của gia đình anh Đặng Văn M trú tại bản Q, xã BC, huyện Con Cuông số tiền 887.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel A256 trị giá 50.000đ. Tổng số tiền H lấy trộm của anh Miền là 937.000đ. Mặc dù trị giá tài sản bị cáo thực hiện vụ thứ hai dưới hai triệu đồng. Tuy nhiên bị cáo H đã bị xét xử về tội trộm cắp chưa được xóa án tích nên bị cáo bị truy tố và xét xử về tội trộm cắp là có căn cứ.

Xé Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản ghi lời khai, kết luận định giá, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Kha Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nhất là tình hình trộm cắp tài sản thường xảy ra và có chiều hướng gia tăng trên địa bàn. Bị cáo đã từng 03 lần bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, chứng tỏ sự coi thường pháp luật của bị cáo ở mức độ cao nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng H chương kháng chiến; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Nên cần giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Đối với anh Vi Khăm X và chị Kha Thị Th là người đã mua tài sản do H trộm cắp đem bán, tuy nhiên khi mua anh, chị không biết tài sản trên do H trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Xay, chị Thanh là có căn cứ.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Kha Văn H khai đã bán 04 chiếc vòng bạc bị cáo trộm của anh Lô Văn S cho một người phụ nữ không quen biết tại khu vực bản Khe Quỳnh, xã Xiêng My, huyện Tương Dương. Do bị cáo không biết tên tuổi, lai lịch của người phụ nữ này nên không có cơ sở xử lý.

[4] Về trách nhiệm dân sự: các tài sản Kha Văn H lấy trộm đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa người bị hại anh Đặng Văn M không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với người bị hại anh Lô Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Kha Thị Th, anh Vi Khăm X vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra anh, chị không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với số tiền 500.000đ H bán tài sản trộm cắp mà có là tiền thu lợi bất chính nay cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo Kha Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Kha Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Kha Văn H 36 (Ba sáu ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 07/9/2018.

Truy thu số tiền 500.000đ tại Kha Văn H để sung công quỹ Nhà nước

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Kha Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đối với người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:50/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Con Cuông - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về