Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC – TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 06/05/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 06 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 139/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2019, về việc: “Yêu cầu ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 10/4/2019, quyết định hoãn phiên toà số: 43/2019/QĐST-HNGĐ ngày: 26/4/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đoàn Thị Kim H, sinh năm: 1994 – (Có mặt).

HKTT: tổ 4, ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: tổ 4, ấp 6, xã Hoà Hội, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Đào Văn P, sinh năm: 1985 – (Vắng mặt).

HKTT: tổ 4, ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2019, bản khai ngày 26/3/2019, biên bản về việc không tiến hành hoà giải được ngày 11/4/2019 tại Tòa án, và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đoàn Thị Kim H trình bày: chị H chung sống với anh P vào năm 2009, nhưng đến tháng 04/2012 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trước lúc chung sống có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc chung sống và kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc với nhau đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P sa vào rượu chè, không lo làm ăn, khi say rượu về thường kiếm chuyện gây gổ, đánh đập chị H. Mặc dù chị H đã góp ý và nhờ gia đình cùng chính quyền địa phương góp ý nhiều lần nhưng anh P vẫn không tiếp thu để sửa chữa. Vì vậy, từ tháng 9/2018 cho đến nay anh chị đã sống ly thân nhau, vợ chồng không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: có 01 con chung là: Đoàn Văn T, sinh ngày: 02/3/2010, hiện nay đang sống cùng với anh P. Do khi khai sinh cho cháu T, chị H chưa đủ tuổi kết hôn nên trong giấy khai sinh cháu T mang họ của chị H và phần ghi về người cha bỏ trống. Sau khi đăng ký kết hôn xong do bận công việc nên chưa kịp bổ sung tên anh P trong phần người cha trong giấy khai sinh của cháu T. Nếu ly hôn chị H đồng ý để anh P tiếp tục nuôi dưỡng nuôi dưỡng cháu T, chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị H vẫn giữ nguyên ý kiến: Yêu cầu ly hôn với anh P, đồng ý để anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, chị H không cấp dưỡng nuôi con. Chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Anh Đào Văn Phung dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay anh P vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Thị Kim H đối với anh Đào Văn P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật và hướng giải yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: chị Đoàn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị H ly hôn với anh Đào Văn P. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. anh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh P.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị H và anh P là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 01) nên là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị H trình bày là do anh P sa vào rượu chè, không lo làm ăn, khi say rượu về thường kiếm chuyện gây gổ, đánh đập chị H. Mặc dù chị H đã góp ý và nhờ gia đình cùng chính quyền địa phương góp ý nhiều lần nhưng anh P vẫn không tiếp thu để sửa chữa. Vì vậy, từ tháng 9/2018 cho đến nay anh chị đã sống ly thân nhau, vợ chồng không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Điều này cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương ( Bút lục số: 24). Điều đó chứng tỏ: giữa chị H và anh P không còn yêu thương, tôn trọng, chia sẻ lẫn nhau. Làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ, nên chấp  nhận yêu cầu của chị H. Về hôn nhân chị H được ly hôn với anh P.

[3] Về con chung: có 01 con chung là: Đoàn Văn T, sinh ngày: 02/3/2010, hiện nay đang sống cùng với anh P. Nếu ly hôn chị H đồng ý đểP tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu T sống cùng với anh P nếu giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn nếp sống, sinh hoạt bình thường của cháu. Mặt khác, việc chị H đồng ý để anh P tiếp tục nuôi dưỡng con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T (Bút lục số: 27). Vì vậy, để anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu T là phù hợp. Do đó, giao cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu T.

Về cấp dưỡng nuôi con: do anh P không có mặt nên không biết anh P có yêu cầu cấp dưỡng hay không. Vì vậy HĐXX không xem xét, nếu sau này các bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị H chưa yêu cầu toà án giải quyết, nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này hai bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định.

[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị H phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các điều 56, 59, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Thị Kim H đối với anh Đào Văn P.

[1] Về hôn nhân: chị Đoàn Thị Kim H được ly hôn với anh Đào Văn P.

[2] Về con chung: có 01 con chung là: Đoàn Văn T, sinh ngày: 02/3/2010, hiện nay đang sống cùng với anh P. Anh P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Chị H được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích của con chung trong quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc chị H và anh P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: chị H chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí: chị H phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà chị H đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0007914 ngày 18/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. chị H đã nộp đủ án phí.

[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


20
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về yêu cầu ly hôn

      Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:06/05/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về