Bản án 51/2017/DS-ST ngày 13/09/2017 về yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 51/2017/DS-ST NGÀY 13/09/2017 VỀ YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT

Vào ngày 13 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tinh Binh Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 112/2017/TLST-DS ngày 08/5/2017 về việc “Yêu cầu chấm dưt hanh vi trai phap luât (yêu cầu chấm dưt viêc chiếm giư trai phep giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2017/QĐXXST- DS ngày 10/8/2017, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1965; nơi thường trú: Số 0012A, Tổ 1, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1963; nơi thường trú: Tổ 1, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; nơi thường trú: Số 0012A, Tổ 1, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

3.2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996; nơi thường trú: Số 0012A, Tổ 1, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tai đơn khơi kiên ngay 04 thang 4 năm 2017 va trong qua trinh giai quyêt vu an, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Khoảng tháng 8/2012, chồng của bà Nguyễn Thị P là ông Nguyễn Văn T có cho bà Nguyễn Thị Thanh N mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T để bà N cầm cố cho một người khác. Sau đó ông T đã nhiều lần yêu cầu bà N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nhưng bà N chưa trả lại. Tháng 01/2015, ông Nguyễn Văn T chết. Bà P làm đơn đề nghi Trưởng khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương giải quyết. Tại Biên bản làm việc ngày 03/4/2015 cua khu phố T, phường T, thị xã T, bà N thừa nhận va cam kết se tra lai cho ba P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưng tên hô ông Nguyễn Văn T vào cuối tháng 10 năm 2015. Tuy nhiên, đến nay bà N vẫn chưa trả lại cho bà P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã cam kết trong Biên bản làm việc ngày 03/4/2015. Vì vậy, yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc bà Nguyễn Thị Thanh N phải trả lại cho bà Nguyễn Thị P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị P trinh bay: Qua trinh lam viêc tai Toa an ba N co hưa đến ngay 13/9/2017 se tra lai giấy chưng nhân quyền sư dung đất cho ba P nhưng đến nay ba N vân chưa thực hiên. Vi vây, ba P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Bà N thừa nhận có mượn của ông Nguyễn Văn T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T như nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đã trình bày. Tuy nhiên, tại thời điểm mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T thì bà N có giao cho ông T 03 chỉ vàng 9999 để làm tin. Sau đó, ông T chết nên bà N chưa trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ba N đồng ý trả lại cho bà P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T vao ngày 13/9/2017. Đối với số tiền 03 chỉ vàng 9999 mà bà N đã đưa cho ông T để làm tin khi mượngiấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên sẽ tự thỏa thuận với nhau, bà Nkhông có yêu cầu phản tố.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T thống nhất với trình bày của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên toa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tuc tố tung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Qua trinh giai quyết vu an bi đơn thưa nhân co mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T va đồng y tra lai giấy chưng nhân quyền sư dung đất cho nguyên đơn. Như vây, đây la tinh tiết không phải chưng minh theo quy đinh tai Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp về yêu cầu chấm dưt hanh vi trai phap luât (yêu cầu chấm dưt viêc chiếm giư trái phep giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) ma bi đơn cư tru tại thị xã T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã T giải quyết. Căn cứ vào Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xet xư vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc bà Nguyễn Thị Thanh N chấm dưt hanh vi chiếm giư trai phep giấy chứng nhận quyền sử dụng đất va yêu cầu ba N phai trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Kết qua xac minh cua Toa an thê hiên: Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU ngày 28/12/1999, ông Nguyễn Văn T là thành viên của hộ bà Nguyễn Thị Ng (mẹ ruột của ông T đa chết), nhưng thanh viên khac trong hô ba Ng đều khăng đinh đây là tài sản riêng của ông T. Năm 2005, ông T tách hô khẩu và lập một hộ khâu riêng gồm có các thành viên là: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị P (la vợ ông T), ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T (là con của ông T và bà P). Ngoài ra, ông T không có con nuôi, con riêng nào khác; cha mẹ của ông T cũng đã chết trước ông T. Ông T đa chết ngay 02/02/2015. Như vậy, bà P, ông Đ và bà T là những người thừa kế hợp pháp của ông T va đươc quyền khơi kiên yêu cầu chấm dưt hanh vi trai phap luât (yêu cầu ba N chấm dứt việc chiếm giư trai phep giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy đinh tai Khoan 7 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.

[2.2] Bi đơn bà Nguyên Thi Thanh N thừa nhận có mượn của ông Nguyễn Văn T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T va đồng y tra lai theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vây, đây là tinh tiết không phai chưng minh theo quy đinh tai Điều 92 Bô luât Tố tung dân sư.

[2.2] Theo quy đinh tai Khoan 16 Điều 3 Luât Đất đai năm 2013 quy đinh: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Khi đa đươc cấp giấy chưng nhận quyền sư dụng đất thi ngươi sử dung đất được thưc hiên cac quyền theo quy đinh tại  Điều 166 va 167 Luật Đất đai. Như vậy, việc bà Nga giư giấy chưng nhận quyền sư dụng đất ma không tra la can trở, gây kho khăn đối vơi việc thưc hiện quyền cua người sư dung đất theo quy đinh tai khoan 10 Điều 12 Luât Đất đai năm 2013. Vi vây, yêu cầu khơi kiên cua nguyên đơn la có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận va buôc bi đơn phai chấm dưt hanh chiếm giư trai phap luât va phai trả cho nguyên đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) T cấp ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T.

[2.3] Y kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cư vao Điều 26, 35, 39, 92 va 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm2015;

- Căn cư vào Khoan 16 Điều 3, Khoan 10 Điều 12 va Khoan 7 Điều 166 Luât Đất đai năm 2013.

 Căn cư vao Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P về việc: Yêu cầu chấm dưt hanh vi trai phap luât (yêu cầu chấm dưt viêc chiếm giư trai phap luât giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N.

2. Buôc bi đơn bà Nguyễn Thị Thanh N phai chấm dưt hanh vi chiếm giư trai phap luât giấy chứng nhận quyền sử dụng đất va phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00734/QSDĐ/TU do Ủy ban nhân dân huyện (nay là  thị  xã) T, tinh Binh Dương cấp ngày28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1 Bà Nguyễn Thị Thanh N phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.2 Bà Nguyễn Thị P không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị P đươc nhân lai số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013380 ngày 03/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tinh Binh Dương.

4. Về quyền kháng cáo:

4.1. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4.2. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ban an đươc tống đat hơp lê theo quy đinh cua phap luât.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2017/DS-ST ngày 13/09/2017 về yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật

Số hiệu:51/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về