Bản án 51/2018/HNGĐ-ST ngày 17/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 51/2018/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Lương Thị Cẩm T, sinh năm 1984; địa chỉ ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)

2.Bị đơn: Anh Đặng Thanh Nam, sinh năm 1982; địa chỉ ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2018 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lương Thị Cẩm T trình bày:

Vào năm 2004 chị và anh Đặng Thanh N cưới nhau năm 2004, hôn nhân do hai bên quen biết tìm hiểu. Sau đó được sự đồng ý của gia đình đôi bên chấp thuận, chị và chồng chị có tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/4/2004. Nữ trang trong ngày cưới tổng cộng 30 chỉ vàng 24K. Hiện đã chi tiêu vào việc làm ăn hết.

Sau ngày cưới anh chị sống tại gia đình ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, vợ chồng sống hạnh phúc được 12 năm, chị và chồng chị có 02 đứa con chung tên Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005. Hiện 02 cháu do chị chăm sóc, nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị cũng tạo ít tiền đủ chi tiêu hàng ngày, không có tài sản chung.

Trong thời gian chung sống cả hai vợ chồng không thiếu nợ ai.

Mâu thuẫn phát sinh là do anh Đặng Thanh N nghiện ngập ma túy, cả hai bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh N và chị thường xảy ra cự cãi, không cùng chung quan điểm, gây gỗ nhau đến mức trầm trọng, anh N đập phá đồ trong nhà và đánh chị, hiện tại chị và anh N không còn tình cảm với nhau. Chị và anh N không còn chung sống với nhau nữa, hiện chị đang ở nhà mẹ ruột của chị, chị sống ly thân với anh N từ tháng 11 năm 2017 đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, con chị đã lớn có người cha nghiện ngập sẽ ảnh hưởng đến tương lai sau này của hai cháu nên chị yêu cầu tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết cho chị những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Đặng Thanh N

Về con chung: Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp không yêu cầu tòa án giải quyết

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, xuất phát từ việc anh N nghiện ngập, không quan tâm đến vợ con, dù chị đã hết lời khuyên can, vợ chồng thường hay cự cãi, dẫn đến mâu thuẩn trầm trọng. Chị và anh N ly thân từ tháng 11/2017 đến nay. Chị không còn tình cảm cũng như không muốn chung sống với anh N, vì vậy chị xin ly hôn anh Đặng Thanh N, nếu tòa không giải quyết cho chị ly hôn với anh N thì chị cũng không thể nào về chung sống với anh N được nữa. Về con chung Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005 chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Minh và cháu Đạt, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đặng Thanh N, để anh N đến Tòa án tham gia tố tụng, nhưng anh Nam không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Lương Thị Cẩm T về việc yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thanh N; về con chung: có 02 người con chung Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005; về tài sản chung, nợ chung chị Lương Thị Cẩm T xác định không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Đặng Thanh N có nơi cư trú tại huyện Bình Tân, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân không có thu thập chứng cứ do đó vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, được quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Đặng Thanh N không vì sự kiện bất khả kháng dù đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Cẩm T và anh Đặng Thanh N là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị T và anh N đã ly thân từ tháng 11/2017 đến nay.

Xét cuộc sống gia đình giữa chị T và anh N không hạnh phúc, anh chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị T không còn mong muốn cùng anh N xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Với những mâu thuẫn vợ chồng như chị đã trình bày tại phiên tòa nếu kéo dài thêm cuộc sống hôn nhân sẽ càng thêm trầm trọng thêm sự ức chế hai bên, mục đích hôn nhân không đạt được và cuộc hôn nhân này không thể kéo dài.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Cẩm T cho chị T được ly hôn với anh Đặng Thanh N.

Về con chung: Cháu Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005 hiện đang sống cùng chị T. Cháu M và cháu Đ đều có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy hiện cháu M và cháu Đ có cuộc sống ổn định nên việc chị T yêu cầu được nuôi cháu M và cháu Đ là có căn cứ nên được chấp nhận. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị T, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đặng Thanh N

- Về con chung: Giao cháu Đặng Gia M sinh ngày 17/02/2005 và Đặng Gia Đ sinh ngày 17/02/2005 cho chị Lương Thị Cẩm T nuôi dưỡng, anh Đặng Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm:

Buộc chị Lương Thị Cẩm T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012193 ngày 30/5/2018 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nên chị T không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2018/HNGĐ-ST ngày 17/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:51/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Tân - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về