Bản án 521/2019/HS-PT ngày 30/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 521/2019/HS-PT NGÀY 30/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30/8/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 432/2019/TLPT-HS ngày 14/6/2019 do có kháng cáo của các bị cáo: Lê Quý H, Trần Văn K, Vũ Văn Đ và kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M; đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2019/HS-ST ngày 08, 09 và 10/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Các bị cáo có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo:

1. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 08/01/1991 tại Thanh Hóa, giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông: Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị T; vợ: Đoàn Thị H và có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Quý H, sinh ngày 25/7/1990 tại Thanh Hóa, giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông: Lê Quý G và bà Trịnh Thị T; bị cáo có vợ là Đồng Thị Th và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2011 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”, thời gian thử thách 05 năm; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2018 đến ngày 22/11/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Văn K, sinh năm 1971 tại Thái Bình, giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Kinh doanh vận tải; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Trần Văn K và bà Trần Thị T (đều đã chết); bị cáo có vợ là Vũ Thị N, có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2018 đến ngày 28/11/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt;

4. Vũ Văn Đ, sinh năm 1979 tại Hà Nam, giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: Không, dân tộc: Kinh; con ông Vũ Văn Ch (đã chết) và con bà Trần Thị T; bị cáo có vợ: Nguyễn Thị L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại có kháng cáo: Anh Đỗ Trọng M, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt;

* Ngoài ra còn có 08 bị cáo, 24 người bị hại và 05 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2018 Trần Chí K (H), trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương liên lạc nhờ Đặng Kim G (Tr) trú ở xã L, huyện N, tỉnh Bình Phước tìm mối tiêu thụ xe trộm cắp; G đồng ý và đưa Trần Chí K sang Campuchia gặp đối tượng tên Z (là người quốc tịch Campuchia) trao đổi việc mua bán xe trộm cắp. K, G, Z thống nhất giá tiền của từng xe theo năm sản xuất, cụ thể: Xe sản xuất năm 2018 có giá 11.500.000đ, mỗi đời xe trước thấp hơn 1.000.000đ. Sau khi gặp Z, K và G tiếp tục bàn bạc thống nhất về việc khi có xe trộm cắp, K chủ động báo cho G để G liên hệ với Z; khi mang xe đi thì G là người dẫn đường nhằm tránh lực lượng bộ đội Biên phòng kiểm tra; mỗi xe máy tiêu thụ được K trả cho G 300.000đ. Đến giữa tháng 02/2018 Trần Chí K trao đổi với Trương Ngọc T2, ở xã K, huyện H, tỉnh Thanh Hóa về việc đang có nhu cầu mua các loại xe trộm cắp nhãn hiệu Honda Wave. T2 đồng ý và thống nhất giá bán xe máy trộm cắp được dựa vào năm sản xuất; hai bên thống nhất cách thức gửi tiền qua hệ thống chuyển tiền của Viettel vào tài khoản của Trần Văn B xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (là em rể của T2) hoặc tài khoản A mang tên Trương Thị H (là con gái của T2) mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh huyện H. Sau khi thống nhất, K móc nối với Lê Văn C tìm nguồn cung cấp xe. Các bị cáo đã dùng xe máy làm phương tiện đi tìm kiếm trên địa bàn huyện H, thành phố Thanh Hóa và huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa, thấy sơ hở dùng vam chữ T phá khóa để trộm cắp xe, sau khi trộm được chủ yếu các bị cáo tập kết tại nhà nghỉ T thuộc xã P, huyện H, sau đó liên lạc với K1, Đạt để vận chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh.

Về cách thức vận chuyển, các đối tượng thống nhất: Sau khi lấy trộm được xe máy, Công chịu trách nhiệm gửi qua xe khách B BKS 17B - A (xe chạy tuyến Thái Bình - Bến xe Miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh) do Trần Văn K làm quản lý; sau khi xe vào đến bến xe Miền Đông, K sẽ đến nhận xe và thanh toán cho K1 mỗi xe 700.000đ. Tuy nhiên, sau một số lần vận chuyển thì K1 biết được là xe trộm cắp nên K1 không đồng ý vận chuyển nữa. Lúc này, K đã thỏa thuận với K1 nâng giá cước vận chuyển lên mỗi xe là 1.200.000đ, K1 đồng ý. Do xe K1 xuất phát lúc 3 giờ sáng nên có những lúc vào đến Thanh Hóa các đối tượng trộm cắp không kịp gửi xe thì K1 sẽ cho các đối tượng số điện thoại của Vũ Văn Đ (em vợ K1) làm quản lý xe khách BKS 17B – B của nhà xe B chạy tuyến Thái Bình - Bến xe Miền Đông để gửi xe máy trộm cắp được qua xe của Đạt; lúc có xe trộm cắp nếu K1 không nhận được K1 điện thoại cho Đạt để Đạt đón nhận xe. Bằng thủ đoạn trên các bị cáo Trương Ngọc T2, Lê Văn C, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Ngọc T vàác của tỉnh Thanh Hóa; các bị cáo đã thông qua 02 xe khách của nhà xe B chuyển vào Bến xe Miền Đông cho Trần Chí K tổng cộng 25 xe máy trộm cắp các loại. Trong đó, bị cáo Nguyễn Ngọc T thực hiện 07 vụ, bị cáo Lê Quý H thực hiện 01 vụ; các bị cáo Trần Văn K và Vũ Văn Đ đã thay nhau vận chuyển số xe máy trên vào BếLê Quý H đã thực hiện 25 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn huyện H, thành phố Thanh Hóa và các huyện khn xe Miền Đông giao cho Trần Chí K và Nguyễn Đình Quyền để lấy cước vận chuyển.

Ngoài ra, khoảng 13 giờ 30 ngày 27/6/2018, Tổ công tác Công an huyện H cùng Công an xã Q, huyện H đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Đông Khê, xã Q, huyện H thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Ngọc T và Lê Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ trong túi quần sau của Nguyễn Ngọc T đang mặc 01 gói giấy trắng kích thước (4x4)cm bên trong chứa các cục bột màu trắng ngà (nghi là Hêroin); thu trong túi quần Công đang mặc 01 gói giấy thiếc màu vàng kích thước (2x3)cm bên trong chứa các cục bột màu trắng ngà (nghi là Hêroin), trong ví da ở túi quần sau bên phải của Công 01 gói nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5)cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy dạng đá). Tại Bản kết luận giám định số 1289/MT-PC54 ngày 29/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- 01 gói giấy trắng kích thước khoảng (4x4)cm bên trong chứa các cục bột màu trắng ngà thu trong túi quần sau bên phải của Tuấn đang mặc có tổng khối lượng là 0,145 gam loại Heroin.

- 01 gói giấy thiếc màu vàng kích thước (2x3)cm bên trong chứa các cục bột màu trắng ngà thu trong túi áo của Công đang mặc có tổng khối lượng 0,135 gam loại Heroin.

- 01 gói nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5)cm thu trong ví da ở túi quần sau bên phải của Công có tổng khối lượng là 0,230 gam loại Methamphetamine.

Nguyễn Ngọc T và Lê Văn C khai nhận, số ma túy trên do Tuấn, Công góp tiền rủ nhau đi mua; Công là người trực tiếp mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào khoảng 13 giờ ngày 27/6/2018 tại thị trấn Hà Trung với giá 400.000đ một phân Heroin và 300.000đ 01 gói ma túy đá mục đích để sử dụng và đã sử dụng một ít còn lại thì bị thu giữ.

Với nội dung trên tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2019/HSST ngày 08, 09 và 10 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Lê Quý H, Trần Văn K, Vũ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Lê Ngọc Tuấn còn phạm thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Ngọc T 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2018;

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s (bị cáo K1, Đạt áp dụng thêm điểm t) khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Quý H 30 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 ngày tạm giữ (từ 13/11/2018 đến ngày 22/11/2018); xử phạt Trần Văn K 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó là 02 tháng 11 ngày (từ ngày 17/9/2018 đến ngày 28/11/2018); xử phạt Vũ Văn Đ 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó là 02 tháng 27 ngày (từ ngày 15/8/2018 đến ngày 12/12/2018).

Ngoài ra Bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, buộc trách nhiệm đền bù dân sự, truy thu số tiền hưởng lợi bất chính, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/5/2019 bị cáo Lê Quý H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 16/5/2019 các bị cáo Trần Văn K, Vũ Văn Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và ngày 16/5/2019 người bị hại Đỗ Trọng M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Ngọc T và Lê Quý H. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Quý H giữ nguyên nội dung kháng cáo, các bị cáo K1, Đạt bổ sung xin được giảm hình phạt và hưởng án treo; các bị cáo trình bày:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc T trình bày: Bị cáo thấy Bản án sơ thẩm đã quy kết và xét xử bị cáo là đúng quy định pháp luật nên bị cáo không kháng cáo, nhưng do người bị hại là anh Minh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Lê Quý H trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã quy kết; nhưng bị cáo do bị rủ rê lối kéo không làm chủ được bản thân nên đã phạm tội; bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo phạm tội nhiều lần là không đúng vì bị cáo chỉ tham gia trộm cắp một xe máy; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Trần Văn K trình bày: Thừa nhận hình vi phạm tội của mình về tội danh. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh hết sức khó khăn, học thức ít, không nhận thức được pháp luật; mục đích chở xe máy chỉ mong có thêm thu nhập để phụ giúp gia đình, thuốc thang cho vợ, sau khi nhận thức ra bị cáo đã rất hối hận nên đã đến cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng xét cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 24 tháng tù là quá nặng nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

- Bị cáo Vũ Văn Đ trình bày: Bị cáo có hoàn cảnh hết sức khó khăn, bố mất sớm, mẹ già yếu, cả hai vợ chồng không có công ăn việc làm ổn định, các con còn nhỏ; nên xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ; cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng, xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án như Bản án sơ thẩm là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Đối với bị cáo Lê Quý H, bị cáo chỉ thực hiện một hành vi trộm cắp, nhưng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng bị cáo phạm tội từ hai lần trở lên là không đúng dẫn đến xử phạt bị cáo 30 tháng tù là cao. Đối với Trần Văn K, Vũ Văn Đ xét hành vi của hai bị cáo là đồng phạm giúp sức, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho cả hai bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của của người bị hại anh Đỗ Trọng M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuấn; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo K1, Đạt, Hùng và một phần kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hùng; sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giảm hình phạt cho bị cáo Hùng, K1 và Đạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Lê Quý H, Trần Văn K và Vũ Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã quy kết; lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, lời khai người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận, trong khoảng thời gian từ tháng 02/2018 đến tháng 9/2018 các bị cáo đã bàn bạc, thống nhất trộm cắp nhiều xe máy thông qua Trần Văn K và Vũ Văn Đ vận chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh giao cho Trần Chí K bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi đó của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Ngọc T còn có hành vi tàng trữ trong người 0,145 gam ma túy loại Heroin, nên bị cáo Tuấn còn phạm thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[2] Xét hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, các bị cáo phạm tội nhiều lần có tính hệ thống, có sự cấu kết chặt chẽ và phân công từng bị cáo thực hiện các công đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, cũng như phân chia lợi nhuận. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã quy kết các bị cáo phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng là “Có tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M, thấy rằng:

[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T đã 07 lần thực hiện hành vi trộm cắp với các bị cáo khác với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 153.200.000đ; bản thân bị cáo được hưởng lợi 17.500.000đ. Do tài sản bị cáo trộm cắp trên 50 triệu đồng nên bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo còn phạm thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ không cao. Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới đáng kể làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo là có căn cứ.

[3.2] Đối với bị cáo Lê Quý H, ngày 01/6/2018 cùng Nguyễn Ngọc T thực hiện một hành vi trộm cắp một xe máy trị giá 13.000.000đ, bản thân bị cáo hưởng lợi 3.000.000đ; bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Cướp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, ngày 13/11/2018 bị cáo đã đến Cơ quan Điều tra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chỉ thực hiện một hành vi phạm tội nhưng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng bị cáo phạm tội từ hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình là không đúng, từ đó xử phạt bị cáo 30 tháng tù có phần nghiêm khắc, không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3.3] Đối với bị cáo Trần Văn K và Vũ Văn Đ là những người quản lý xe khách B đã nhận vận chuyển xe cho các đồng phạm vào thành phố Hồ Chí Minh; lúc đầu các bị cáo không biết được đó là xe trộm cắp, nhưng một thời gian sau các bị cáo biết được đó là xe trộm cắp các bị cáo ép nâng cước vận chuyển lên và tiếp tục hứa hẹn để vận chuyển cho đồng phạm khi có tài sản trộm cắp được để hưởng lợi. Tuy các bị cáo thực hiện nhiều lần, nhưng các bị cáo không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mà sau khi các bị cáo khác thực hiện xong việc trộm cắp mới chuyển tài sản đó cho các bị cáo, xét hành vi phạm tội của cả hai bị cáo là đồng phạm giúp sức với vai trò không đáng kể, mục đích chỉ để lấy cước vận chuyển, không được chia lợi nhuận, cả hai bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, có tin báo cho Công an tỉnh Thái Bình phá được vụ án ma túy lớn trên địa bàn được Cơ quan Công an xác nhận; các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi từ việc phạm tội, bị cáo K1 đã đến cơ quan Điều tra để đầu thú và bố mẹ là người có công được tặng thưởng huân huy chương, cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên cần chấp nhận một phần kháng cáo để giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo; cả hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.

[4] Về án phí: Các bị cáo được chấp nhận kháng cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Đỗ Trọng M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Ngọc T; chấp nhận một phần kháng cáo của người bị bại Minh về xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hùng, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quý H, Trần Văn K, Vũ Văn Đ; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2019/HS-ST ngày 08, 09 và 10/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Ngọc T 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2018.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt:

Bị cáo Lê Quý H 24 (hai bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 13/11/2018 đến ngày 22/11/2018.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s điểm t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

xử phạt:

- Bị cáo Trần Văn K 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2018 đến ngày 28/11/2018.

- Bị cáo Vũ Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2018 đến ngày 12/12/2018.

Về án phí: Các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án số: 52/2019/HS-ST ngày 08, 09 và 10/5/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


21
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 521/2019/HS-PT ngày 30/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:521/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:30/08/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về