Bản án 52/2017/HS-ST ngày 17/11/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 52/2017/HS-ST NGÀY 17/11/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2017/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2017/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Nguyễn Thị X; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1967; Nơi sinh: Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 2, xã L, Thành phố B2, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn N (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Chồng: Lê Văn N2, sinh năm: 1964; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995. Tiền án: không; Tiền sự:

+ Vào ngày 29/10/2015 bị Công an thị trấn LT, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc vào ngày 08/10/2015.

+ Vào ngày 22/8/2016 bị Công an xã LA, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc vào ngày 22/8/2016. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2- Họ và tên: Hồ Thị Kim P; Tên gọi khác: Bé Năm; Sinh năm: 1984; Nơi sinh: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 7, xã LA, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: công nhân may; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn S, sinh năm: 1955; Con bà: La Thị Mỹ H, sinh năm: 1957; Chồng: Vũ Đình C, sinh năm: 1981; Có 01 con, sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3- Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Út; Sinh năm: 1959; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã LA, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C1, đã chết; Con bà: Đoàn Thị C2, đã chết; Chồng: Nguyễn Tấn C3, sinh năm: 1952; Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1977, con nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

4- Họ và tên: Nguyễn Văn M; Tên gọi khác: M mù; Sinh năm: 1974; Nơi sinh: Lâm Đồng ; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 3, xã LA, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: làm vườn; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới Tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M1, đã chết; Con bà: Trần Thị M2, sinh năm: 1946; Vợ: Tạ Thị M3, sinh năm: 1971; Có 01 con sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người liên quan: Tạ Thị M3 sinh năm: 1971

Trú tại: Thôn 3, xã LA, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

o lúc 14h20 ngày 17/03/2017 Công an xa LA, huyện B bắt quả tang tại vườn nhà ông Nguyên Văn M đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức “bài cào” . Khi Công an bắt quả tang một số đối tượng bỏ chạy Công an xã LA bắt giữ được 06 đối tượng là Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Ngô Thái Y và Nguyễn Văn M (chủ nhà ), Nguyên Văn K cùng các tang vật, tiên trên chiếu bạc và tiền trên người của các đối tượng gồm:

- Tổng số tiền thu giữ được là 11.200.000đ, trong đó:

+ Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là: 8.220.000đ.

+ Số tiền thu giữ trên người của các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 1.550.000đ.

+ Số tiền thu giữ trên người của các đối tượng không sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 1.430.000đ (gồm của Nguyễn Thị X 1.400.000đ ; Nguyễn Văn K 30.000đ);

- Tang vật gồm: 02 tấm bạt sọc trắng đã cũ, 01 chiếu nhựa màu nâu, 01 chăn màu đỏ 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 ĐTDĐ hiệu SamSung DUOS màu vàng của Hồ Thị Kim P; 01 ĐTDĐ hiệu NOKIA màu đen xám của Nguyễn Thị T; 01 ĐTDĐ Iphone 5s, 1 zippo trắng và 01 bóp da màu nâu bên trong có chứng minh nhân dân của Nguyên Văn K.

* Quá trình điều tra xác định:

Vào khoảng 08h00’ ngày 17/03/2017 Ngô Thái Y cùng với Phạm Thị H1 (Cúc) cùng một số người đến nhà Nguyễn Văn M hỏi mượn nhà M để đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên được thua bằng tiền, mỗi ván từ 5.000đ -10.000đ thì M đồng ý. Y, H1 cùng một số người ngồi chơi bài tiến lên trong nhà M. Trong quá trình đánh bạc Y và những người này gọi điện cho những người khác đến tham gia đánh bạc. Đến khoảng 11h00 cùng ngày có nhiều người đến tham gia đánh bạc nên Y mượn bạt phơi cà phê của gia đình M đem trải dưới gốc cây sầu riêng cách nhà 30m để đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào. Lúc này có Y, H1, T, P, X, Trịnh Thị Xuân T1 đánh bạc với một số đối tượng khác còn Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Văn K đứng xem. Trong quá trình đánh bạc thì M thu tiền xâu được 100.000đ. Chơi được một lúc thì T1, H1 đi về trước, còn những người khác vẫn tiếp tục đánh bạc cho đến khi bị bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định được các đối tượng trực tiếp tham gia đánh bạc bị bắt quả tang như sau:

1/ Nguyễn Thị X: mang theo trong người 1.600.000đ, lấy ra 200.000đ sử dụng để đánh bạc, tham gia đặt nhiều ván từ 50.000đ -100.000đ/ván và bị thua hết 200.000đ. Khi Công an xã LA bắt quả tang X bỏ tiền trong người 1.400.000đ ra chiếu bạc để lập biên bản.

2/ Hồ Thị Kim P: mang theo 500.000đ đều sử dụng để đánh bạc, tham gia đặt cược 3 - 4 ván, mỗi ván đặt 50.000đ. Khi Công an bắt quả tang P bỏ tiền vào túi bỏ chạy thì bị bắt, Công an xã LA yêu cầu bỏ 500.000đ ra chiếu bạc lập biên bản. Tại thời điểm bị bắt P hòa tiền.

3/ Nguyễn Thị T: mang theo 100.000đ tham gia đánh bạc được 2 ván, khi Công an đến bắt quả tang thì T bỏ chạy làm rơi 50.000đ, còn 50.000đ để trong người Công an xã yêu cầu bỏ ra chiếu bạc và lập biên bản. Tại thời điểm bị bắt T hòa tiền.

4/ Nguyễn Văn M: là chủ nhà, đồng ý cho các đối tượng mượn địa điểm, dụng cụ (nhà, vườn, bạt, chăn,..) để đánh bạc và thu N được 100.000đ. Khi M đang đứng xem thì bị bắt quả tang, M đã bỏ 100.000đ là số tiền thu N ra chiếu bạc để Công an lập biên bản.

5/ Ngô Thái Y: tham gia đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang. Y mang theo 1.500.000đ để đánh bạc, khi bị bắt đang cầm trên tay 900.000đ, đều sử dụng để đánh bạc, Công an xã LA yêu cầu bỏ ra chiếu bạc và lập biên bản. Sau khi làm việc xong thì bỏ trốn hiện không xác định được nơi cư trú nên Cơ quan CSĐT ra Quyết định truy nã, khi nào bắt được xử lý sau.

Như vậy tổng số tiền chứng minh được các bị cáo X, P, T, M sử dụng để đánh bạc là 9.770.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng; Đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 248 và điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 06 tháng đến 09 tháng tù, phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ; Áp dụng khoản 1 Điều 248 và điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ; Áp dụng khoản 1 Điều 248 và điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.

+ Các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là sai. Riêng bị cáo Nguyễn Thị X trình bày hoàn M gia đình khó khăn, chồng bị bệnh, con trai mới đi bộ đội xuất ngũ về chưa có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Nguyễn Văn M bị mù hai mắt bẩm sinh đang hưởng chính sách xã hội nhận trợ cấp hàng tháng do UBND huyện B cấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không có tiền để nộp phạt…do đó các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M thể hiện:

Vì mục đích vụ lợi vào ngày 17/03/2017 tại vườn nhà Nguyễn Văn M ở Thôn 3, xã LA, huyên B, Ngô Thái Y cùng với Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T và một số đối tượng khác cùng nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài cào và Nguyễn Văn M cho mượn địa điểm, dụng cụ (nhà, vườn, bạt, chăn...) phục vụ cho việc đánh bạc để hưởng lợi. Đến 14h20 cùng ngay thì bị Công an xa LA, huyện B bắt quả tang thu giữ được tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.770.000đ.

Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999. Vì vậy, Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Các bị cáo thực hiện tội phạm là ít nghiêm trọng do cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội trong nhân dân. Các bị cáo đều nhận thức và biết được rằng hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội với động cơ tư lợi cá nhân. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này còn có Ngô Thái Y sau khi làm việc xong thì bỏ trốn hiện không xác định được nơi cư trú nên cơ quan CSĐT ra Quyết định truy nã khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với một số đối tượng khác chưa xác định được nên kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Trịnh Thị Xuân T1, Phạm Thị H1 (Cúc) có tham gia đánh nhưng về trước khi Công an bắt quả tang nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà xử lý hành chính là thỏa đáng.

Đối với Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị T2 quá trình điều tra xác định chỉ đứng xem, không tham gia đánh bạc nên không đề cập.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M có nhân thân tốt thể hiện việc các bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo M là đối tượng đang được hưởng trợ cấp xã hội do bị Tàn tật (mù hai mắt bẩm sinh). Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 đối với các bị cáo Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Thị X.

[5] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ được tại hiện trường 02 tấm bạt sọc trắng đã cũ kích thước 4m x 5m, 01 chiếu nhựa màu nâu kích thước 1,6m x 1,8m, 01 chăn màu đỏ kích thước 140cm x 200cm và 02 bộ bài tú lơ khơ. Xét thấy những vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 9.770.000đ là tiền thu trên chiếu bạc và số tiền của các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 1.400.000đ thu trên người của bị cáo Nguyễn Thị X. Quá trình điều tra xác định bị cáo X không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên trả lại cho bị cáo X nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho Hồ Thị Kim P 01 ĐTDĐ hiêu SamSung DUOS mau vang , số IMEI: 353237/07/710205/2 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho Nguyễn Thị T 01 ĐTDĐ hiệu NOKIA màu đen xám, số IMEI: 354552/05/552761/0 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Nguyên Văn K 30.000đ; 01 ĐTDĐ Iphone 5s màu đen xám, số IMEI: 352087077068410; 01 zippo và 01 bóp màu nâu (trong bóp có 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn K) (Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng).

[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim P 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 2 tấm bạt sọc trắng đã cũ kích thước 4m x 5m, 01 chiếu nhựa màu nâu kích thước 1,6m x 1,8m, 01 chăn màu đỏ kích thước 140cm x 200cm và 02 bộ bài tú lơ khơ.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.770.000đ (Chín triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị X số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Hồ Thị Kim P 01 ĐTDĐ hiêu SamSung DUOS màu vàng, số IMEI: 353237/07/710205/2 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 ĐTDĐ hiêu NOKIA màu đen xám, số IMEI: 354552/05/552761/0 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Nguyễn Văn K 30.000đ; 01 ĐTDĐ Iphone 5s màu đen xám, số IMEI: 352087077068410; 01 zippo và 01 bóp màu nâu (trong bóp có 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn K).

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị X, Hồ Thị Kim P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay (17/11/2017) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2017/HS-ST ngày 17/11/2017 về tội đánh bạc

Số hiệu:52/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về