Bản án 52/2017/HS-ST ngày 21/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 52/2017/HS-ST NGÀY 21/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21/7/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2017/TLST-HS ngày 23/6/2017 đối với bị cáo:

AB (tên gọi khác: V), sinh năm 1997 tại Kon Tum; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: Thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; : 4/12; Con ông ABy và bà YH; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/4/2017 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh S, sinh năm 1981.

Trú tại: Thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh H, sinh năm 1986. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: đường T, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 09/3/2017, phát hiện nhà anh S tại thôn K, phường T, thành phố Kon Tum không ai trông coi nên bị cáo AB đã dùng tay cạy cửa phía sau vào trộm cắp. Bị cáo đã lấy 1.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus màu trắng để dưới gối trong phòng ngủ và 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087 màu xám để ở phòng khách. Sau đó, bị cáo mang chiếc điện thoại di động trên đến cầm cố tại hiệu cầm đồ của anh H tại đường T, phường L, thành phố Kon Tum được 500.000 đồng. Toàn bộ số tiền 1.800.000 đồng, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết, còn máy cưa sắt mang về cất giấu tại nhà riêng. Trong lúc tìm nơi tiêu thụ, bị cáo bị Công an thành phố Kon Tum phát hiện và bắt giữ.

Tại kết luận định giá tài sản số 25/ĐG-TS ngày 14/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Kon Tum: giá trị còn lại của 01 điện thoại di động hiệu Asus màu trắng là 983.000 đồng; giá trị còn lại của 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087 là 2.661.000 đồng. Tổng giá trị còn lại của hai tài sản trên là 3.644.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh S đã nhận lại 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087 màu xám. Ngoài ra, không yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum đã thu giữ 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087, màu xám, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh S.Đối với 01 điện thoại di động hiệu Asus màu trắng, khi hết thời hạn cầm cố, anh H đã bán lại cho người khác (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không thu giữ được.

AB “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo AB đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 14 giờ ngày 09/3/2017, lợi dụng nhà anh S không có ai trông coi nên bị cáo AB đã dùng tay cạy cửa sau vào nhà trộm cắp số tiền 1.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus màu trắng và 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087 màu xám. Bị cáo đã mang chiếc điện thoại di động đi cầm cố tại cửa hàng cầm đồ của anh H được 500.000 đồng. Đối với chiếc máy cưa sắt, bị cáo mang về cất giấu tại nhà riêng. Trong lúc tìm nơi tiêu thụ, bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum phát hiện, bắt giữ. Toàn bộ số tiền 1.800.000 đồng, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy, hành vi của bị cáo AB đã phạm vào tội “trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp "trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, đúng với nội dung cáo trạng số 48/CTr-VKS ngày 23/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo AB là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Kon Tum. Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử nhằm tuyên truyền pháp luật và răn đe phòng ngừa chung đối với tình hình tội phạm hiện nay là cần thiết. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo AB có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Xét thấy cần cách ly bị cáo AB với đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, trở thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.300.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus màu trắng mà bị cáo đã trộm cắp, người bị hại S có đơn không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã xác định và trả lại cho chủ sở hữu là anh S 01 máy cưa sắt nhãn hiệu Crown CT 15087, màu xám là đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus màu trắng, khi hết thời hạn cầm cố, anh H đã bán cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí: Bị cáo AB phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo AB phạm tội "Trộm cắp tài sản’’.

Áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm h và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo AB 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 25/4/2017.

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 21 và 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo AB phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ các Điều 231 và 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/7/2017), bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã, phường nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2017/HS-ST ngày 21/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:52/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum - Kon Tum
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về