Bản án 52/2019/HS-ST ngày 13/08/2019 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 52/2019/HS-ST NGÀY 13/08/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 13 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2019/HS-ST ngày 22/07/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/HSST-QĐ ngày 01.08.2019 đối với bị cáo sau:

Hoàng Văn M. Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983, tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản A, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Hoàng Văn K, sinh năm 1952 và bà: Mồng Thị E, sinh năm 1952, hiện đang cư trú tại bản A, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 18.8.2017 bị TAND huyện M, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La.

Nhân thân: Tại bản án số: 199/2008/HS-ST ngày 28.5.2008 của TAND huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn M 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số: 32/2012/HSST ngày 27.11.2012 của TAND huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Văn M 36 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo đang điều trị nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Lê Xuân S, sinh năm 1973. Trú tại: Tổ 2, phường H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Những người làm chứng:

- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982. Trú quán: Tổ B, phường H, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Vũ Xuân lập, sinh năm 1981. Trú quán: Tiểu khu A, thị trấn Nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1977. Trú quán: Tổ 5, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Vàng A U, sinh năm 1993. Trú quán: Bản A, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Lèo Văn T2, sinh năm 1992. Trú quán: Bản M, xã H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Lò Văn K, sinh năm 1991. Trú quán: Bản B, xã T, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Quàng Văn B, sinh năm 1986. Trú quán: Bản K, xã H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Lường Văn Đ, sinh năm 1986. Trú quán: Tiểu khu A, xã M, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Bà Lê Thị Mai D, sinh năm 1975. Nghề nghiệp: Bác sỹ phòng y tế Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Trú quán: Tổ C, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Anh Phan Văn H, sinh năm 1973. Nơi công tác: Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Trú quán: Tổ E, phường S, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn M bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, từ ngày 18.8.2017 theo quyết định số: 201/QĐ-TA ngày 18.8.2017 của Tòa án nhân dân huyện M. Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 25.02.2019 sau khi ăn cơm xong, Hoàng Văn M đi từ nhà ăn khu tập thể về buồng C1, nhà 5 khu C thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Khi về đến buồng, M cùng Nguyễn Ngọc T, Vũ Xuân Lập, Nguyễn Mạnh H, Vàng A U đều là học viên cùng buồng đang ngồi uống nước. Trong khi ngồi uống nước, T gọi 05 học viên mới vào buồng C1 gồm Lèo Văn T2, Lò Văn K, Quàng Văn B, Lường Văn Đ, Lê Xuân S ra quỳ ở nền gạch trong buồng C1 để hỏi về nhân thân, lai lịch thứ tự từ phải sang trái đối với T2, K, B, Đông và Sơn. Sau khi hỏi xong, T cầm 01 chiếc dép nhựa loại dép tổ ong ở tay phải đánh vào đầu của T2, K, B, S mỗi người 02 phát và dặn những người mới vào phải chấp hành quy định của cơ sở. Sau đó T quay trở lại bàn ngồi uống nước thì Hoàng Văn M đứng dậy đi ra trước mặt T2 và nói “mày vào đây biết luật chưa?” rồi dùng chân phải đạp 01 phát vào ngực và lưng của T2, tiếp theo M dùng chân phải đạp 01 phát vào ngực rồi dùng cùi chỏ tay phải đánh 01 phát vào gáy của K, tiếp đó M đi đến trước mặt B dùng chân phải đạp 02 phát vào ngực và vào lưng B rồi M đi đến trước mặt S và bảo S cúi đầu xuống, M dùng chân phải đạp 01 phát theo chiều hướng từ trên xuống dưới về phía ngực S, S giơ tay lên đỡ thì chân của M đạp trúng phần mặt ngoài cẳng tay phải. Sau đó M được mọi người can ngăn quay lại bàn uống nước. Lập bảo Sơn, B, K, T2 và Đông đi về giường ngủ.

Sau khi bị M đánh, Sơn thấy đau và tê phần cẳng tay phải vị trí bị M đạp và được mọi người trong buồng cho uống thuốc giảm đau, xoa cao. Đến khoảng 08 giờ ngày 27.02.2019 khi có cán bộ đến kiểm tra Sơn đã báo cáo và xin đi chụp chiếu tại Phòng y tế của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Kết quả chụp chiếu đã phát hiện bị gãy xương cẳng tay phải. Sau đó, Sơn được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. Ngày 19.3.2019 Lê Xuân S làm đơn trình bào đến Công an huyện Mai Sơn điều tra, xử lý hành vi của Hoàng Văn M.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định thương tích Lê Xuân S, Quàng Văn B, Lèo Văn T2, Lò Văn K. Kết quả: Lê Xuân S bị thương tích tại vị trí mặt ngoài cẳng tay phải có 01 vết rạch mổ khâu bằng 08 mũi chỉ, dài 10cm. Qua kiểm tra Quàng Văn B, Lèo Văn T2, Lò Văn K không bị phát hiện dấu hiệu tổn thương.

Ngày 24.4.2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra quyết định trưng cầu giám định số 689 giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương và cơ chế hình thành thương tích của Lê Xuân S, Quàng Văn B, Lèo Văn T2, Lò Văn K.

Ngày 25.4.2019, Quàng Văn B, Lèo Văn T2, Lò Văn K làm đơn từ chối giám định và không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự hay bồi thường gì đối với hành vi của Nguyễn Ngọc T, Hoàng Văn M.

Ngày 02.5.2019, Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 76/TgT đối với Lê Xuân S, kết luận:

1. Dấu vết chính qua giám định.

- Sẹo vết thương phần mềm cẳng tay phải (xếp 2%);

- Giấy thân xương quay tay phải, can tốt, thẳng trục, còn dụng cụ kết xương (xếp 8%);

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 10%.

3. Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương gẫy thân xương quay tay phải của Lê Xuân S là do tác động tương hỗ của vật tày gây nên.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSMS ngày 22/07/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố Hoàng Văn M về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hoàng Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung đã khai tại Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng đã nêu, đó là: Do người bị hại Lê Xuân S mới nhập buồng bị cáo đã lợi dụng khi không có mặt của cán bộ quản lý cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo đã dùng chân, tay gây thương tích cho Lê Xuân S. Bị cáo thấy hối hận về việc đã gây ra.

Người bị hại Lê Xuân S đề nghị bị cáo phải bồi thường tiền thuốc, viện phí, tổn thất về sức khỏe với số tiền 10.000.000VNĐ, về hình phạt đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa, sau khi trình bày lời luận tội đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội "cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm g, i Khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dép nhựa, loại dép tổ ong cỡ XL, màu vàng, có kích thước 26cm x 28cm.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường tiền thuốc, chi phí điều trị và tổn thất về sức khỏe cho người bị hại Lê Xuân S số tiền 10.000.000VNĐ.

Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Văn M tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại anh Lê Xuân S: Nhất trí với quan điểm luận tội của kiểm sát viên nhưng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên các chứng cứ có trong hồ sơ đã ghi đầy đủ lời khai của những người làm chứng, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt người làm không gây trở ngại cho việc xét xử nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định chung.

Căn cứ Quyết định số: 201/2017/QĐ-TA ngày 18.8.2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn M với thời hạn 24 tháng. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa thực hiện Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 yêu cầu Cơ sở điều trị nghiện ma túy ra quyết định tạm đình chỉ cai nghiện đối với Hoàng Văn M và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan điều tra theo quy định. Để thực hiện đúng quy định của pháp luật, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã ra Công văn số: 101/CV-TA ngày 01.8.2019 yêu cầu Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La ra quyết định tạm đình chỉ cai nghiện đối với Hoàng Văn M và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án để giải quyết theo Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn M khai nhận, bị cáo đang điều trị nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Ngày 25.02.2019, khi không có mặt của Cán bộ quản lý học viên, vì muốn nhắc nhở Lê Xuân S, Quàng Văn B, Lèo Văn T2, Lường Văn Đ, Lò Văn K là những học viên mới vào nhập buồng, M cho rằng mình là học viên cũ nên đã dùng chân đạp về phía ngực của bị hại Lê Xuân S, bị hại đã giơ tay lên đỡ thì chân của M đạp trúng vào mặt ngoài tay phải của Sơn, hậu quả bị hại Lê Xuân S bị gẫy quay tay phải, tỷ lệ thương tích 10%. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời trình bày của người bị hại, của những người làm chứng trực tiếp chứng kiến hành vi của bị cáo, người trực tiếp chụp chiếu tại Phòng y tế Cơ sở điều trị nghiện ma túy; phù hợp với các kết quả khám, điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La; kết luận giám định số: 76/TgT ngày 02.5.2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La và toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho người bị hại trong thời gian đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc và thực hiện hành vi có tính chất côn đồ được quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSMS ngày 22.7.2019 là có căn cứ, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức được việc cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng bị cáo đã đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây mất trật tự trị an cho Cơ sở cai nghiện ma túy, làm hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu. Cụ thể: năm 2008 và năm 2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù và 36 tháng tù cùng về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy bị cáo đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, vẫn bất chấp quy định của pháp luật và sử dụng ma túy trái phép, trong thời gian bị cáo đang điều trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy bị cáo lại phạm tội với lỗi cố ý. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi của bản thân, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt thỏa đáng, đủ để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Hiện nay bị cáo đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Do bị cáo bị phạt tù giam, căn cứ Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính, cần tuyên cho bị cáo được miễn chấp hành toàn bộ thời gian còn lại tại Quyết định số: 201/2017/QĐ-TA ngày 18.8.2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo, thái độ của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nếu để bị cáo được tại ngoại tại nơi cư trú thì bị cáo sẽ có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử Quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo tại phiên tòa để bảo đảm thi hành án.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc dép nhựa, loại dép tổ ong cỡ XL, màu vàng, có kích thước 26cm x 28cm. Xét thấy đây là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu của người bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường tiền thuốc, chi phí điều trị và tổn thất về sức khỏe cho người bị hại Lê Xuân S số tiền 10.000.000VNĐ.

[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, do đó được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này còn đề cập đến Nguyễn Ngọc T là người thực hiện hành vi dùng dép đập vào đầu T2, B, K, Sơn nhưng không gây thương tích, sau đó T không thực hiện hành vi. Quá trình điều tra xác định hành vi của T và bị cáo không có sự thống nhất với nhau do đó Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt hành chính Nguyễn Ngọc T bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại Điều 5 Nghị định số: 167/NĐ-CP ngày 12.11.2013 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Mạnh H, Vàng A U, Vũ Xuân Lập là người ngồi uống nước cùng T và bị cáo M. Kết quả điều tra xác định những đối tượng này không bàn bạc hay xúi giục M khi thực hiện hành vi gây thương tích. Do đó Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Mạnh H, Vàng A U, Vũ Xuân Lập là phù hợp với quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm g, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo tại phiên tòa (ngày 13.8.2019).

Áp dụng Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012: Tuyên miễn toàn bộ thời gian cai nghiện bắt buộc còn lại cho Hoàng Văn M tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 201/2017/QĐ-TA ngày 18.8.2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dép nhựa, loại dép tổ ong cỡ XL, màu vàng, có kích thước 26cm x 28cm.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường tiền thuốc, chi phí điều trị và tổn thất về sức khỏe cho người bị hại Lê Xuân S số tiền 10.000.000VNĐ (Mười triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền bồi thường. Nếu bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi xuất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Áp dụng Điều 299, 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13.8.2019).


13
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về