Bản án 52/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VY, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 52/2019/HS-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại Trụ ở Tòa án nhân dân thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2019/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1986; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn BK, xã BH, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đoàn thể, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lái xe; văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị D; có vợ là Dương Thị H1 và có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại Bản án số 91/2018/HS-ST ngày 27/11/2018, Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 11 tháng tù, cho H án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng về tội “Đánh bạc”; bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Trường T, sinh năm 1941; nơi cư trú: Khu hành chính 3, phường NQ, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 10/01/2019, Nguyễn Văn H một mình đi đến đường NT, thuộc phường LB, thành phố VY để xem chơi cờ tướng. Khoảng 05 phút sau, H đi bộ đến bàn bán vé xổ số của ông Đặng Trường T để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề. H hỏi mua số đề cụ thể các số: 51 là 240.000đ; 15 là 60.000đ; 56 và 65 mỗi số là 36.000đ; 02, 20, 70 mỗi số là 12.000đ; 07 là 24.000đ và 06, 60,01, 10, 22, 27, 72, 77 mỗi số là 6.000đ (tổng số tiền là 480.000đ), nhưng do được tính chiết khấu 20% tiền hoa hồng nên H chỉ phải trả cho ông T số tiền 400.000đ. H đưa cho ông T 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, ông T cầm tiền rồi trả lại cho H 100.000đ, đồng thời đưa cho H 01 tờ cáp đề thì bị Tổ công tác Công an phường LB, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, lập biên bản và thu giữ: Trên tay phải của Nguyễn Văn H 01 cáp đề bằng giấy, kích thước 10 x 7cm ghi các số đề: 51=240.000đ; 15 = 60.000đ; 56 = 36.000đ; 65= 36.000đ; 02=12.000đ; 20 = 12.000đ; 70 = 12.000đ; 07 = 24.000đ; 06,60,01,10,22,27,72,77 mỗi số đề là 6000đ và số tiền 100.000đ trên tay phải (cáp đề có chữ ký T ngày 10/01/2019); thu giữ tại tay của ông Đặng Trường T 01 bảng kê bằng giấy, kích thước 20 x 15cm, có ghi các số đề: 51=240.000đ; 15 = 60.000đ; 56 = 36.000đ; 65= 36.000đ; 02, 20, 70 mỗi số đề là 12.000đ; 07 = 24.000đ; 06, 60, 01, 10, 22, 27, 72, 77 mỗi số đề là 6000đ, ghi ngày 10/01/2019, thu giữ trên người ông T số tiền 500.000đ là tiền ông T thu về từ việc đánh bạc dưới hình thức bán số đề cho H mà có, 01 bàn gỗ, 02 ghế nhựa màu xanh.

Cáo trạng số 43/CT-VKSVY ngày 20/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trường T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra đã khai nhận như nội dung cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY đã phân tích đánh giá tính chất, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 11 tháng tù của Bản án số 91/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/8/2018 đến ngày 21/8/2018. Phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung quỹ Nhà nước. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ thu giữ của ông Đặng Trường T là tiền đánh bạc với Nguyễn Văn H mà có; tịch thu, tiêu huỷ 01 bàn gỗ và 02 ghế nhựa đã cũ thu giữ của ông Đặng Trường T, sử dụng vào việc ghi số đề cho H; trả lại bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 100.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại cho ông Đặng Trường T số tiền 100.000đ.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VY truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp lời khai của người liên quan, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 10/01/2018, tại khu vực đường Nguyễn Trãi, thuộc phường Liên Bảo, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Văn H có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề số tiền 400.000đ với ông Đặng Trường T thì bị Tổ công tác Công an phường Liên Bảo, thành phố VY bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Mặc dù số tiền bị cáo H đánh bạc là dưới 5.000.000đ, nhưng do bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 11 tháng tù, cho H án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 91/2018/HS- ST ngày 27/11/2018, bị cáo đang trong thời gian thử thách, chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng …đã bị kết án về tội này...chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[2] Xét tính chất của vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh H đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên tại cơ quan điều tra, phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử do đây là tình tiết định tội nên không căn cứ để tính tình tiết tăng nặng “tái phạm” đối với với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được H tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù, cách ly bị cáo một thời gian và tổng hợp hình phạt 11 tháng tù cho H án treo tại bản án số 91/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Thời gian tạm giữ từ ngày 15/8/2018 đến ngày 21/8/2018 của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành án của bị cáo.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Đối với người liên quan đến vụ án: Ông Đặng Trường T là người đánh bạc bằng hình thức bán số đề cho bị cáo H để kiếm lời. Tuy nhiên, số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc có giá trị dưới 5.000.000đ, bản thân T chưa bị kết án về hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc, do vậy hành vi của T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 22/02/2019, Chủ tịch UBND thành phố VY ra quyết định xử phạt hành chính số 464/QĐ-XP-VPHC đối với ông Đặng Trường T về hành vi làm chủ lô, đề, mức phạt 10.000.000đ là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 400.000đ là tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc với T nên cần tịnh thu, sung quỹ Nhà nước. Số tiền 100.000đ thu giữ của bị cáo H và 100.000đ thu giữ của T là tiền không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo H và T. Tuy nhiên số tiền 100.000đ trả lại cho bị cáo H cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần phạt bị cáo một khoản tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 11 (mười một) tháng tù cho H án treo tại Bản án số 91/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ (của Bản án số 91/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc) từ ngày 15/8/2018 đến ngày 21/8/2018, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của ông Đặng Trường T là tiền đánh bạc với Nguyễn Văn H mà có.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bàn gỗ và 02 ghế nhựa đã cũ.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho ông Đặng Trường T số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). (Có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 3 năm 2019).

3. Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:52/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về