Bản án 525/2018/HNGĐ-ST ngày 11/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 525/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 104/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2018 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ P, sinh năm 1978. (Có mặt)

Thường trú: Ấp T, xã T, huyện M, Tỉnh B.

Nơi cư trú hiện nay: Số 62A tổ 4, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

Thường trú: Ấp T, xã T, huyện M, Tỉnh B.

Nơi cư trú hiện nay: Số 350 Kênh 12, ấp T, xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn ngày 25/01/2018 và các lời khai của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ P trình bày:

Bà P và ông Nguyễn Ngọc M kết hôn năm 1997, đến năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, Tỉnh B vào ngày 18/01/2005. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó trong sinh hoạt vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà P yêu cầu được ly hôn với ông M.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/10/1997 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 01/6/2005; Bà P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc M:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông M đến Tòa án cung cấp lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa nhưng ông M không đến Toà án, không có lý do nên đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ P giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Ngọc M; Bị đơn ông Nguyễn Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc M, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc M cư trú tại xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét sự vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Ngọc M:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông M đến Tòa án cung cấp lời khai, chứng cứ và tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa nhưng ông M không đến Toà án, không có lý do; căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc M.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ P đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc M, xét thấy:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà P đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; đối với bị đơn ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, không có bất kỳ trở ngại khách quan nào khác nhưng vắng mặt không có lý do nên được xem bị đơn ông M từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo qui định tại Điều 91, 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà P cung cấp để xét xử vụ án.

Căn cứ lời trình bày của bà P và các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện bà P và ông M kết hôn năm 1997, đến năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, Tỉnh B vào ngày 18/01/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng bà P, ông M chung sống rất hạnh phúc, sau đó trong sinh hoạt vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, từ đó gia đình mất dần hạnh phúc, tình cảm vợ chồng giữa bà P, ông M ngày càng mất đi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông M là trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyết định chấp nhận yêu cầu của bà P ly hôn ông M.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/10/1997 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 01/6/2005, hiện trẻ Nhật T đang được bà P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và tại bản khai của trẻ Nhật T thể hiện trẻ có nguyện vọng được bà P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy, nhằm tạo điều kiện ổn định về tâm sinh lý, học hành của trẻ Nguyễn Nhật T, quyết định giao trẻ Nguyễn Nhật T cho bà P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông M theo yêu cầu của bà P là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự khác: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà P phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 96, 227, 228, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 6 Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ P đối với ông Nguyễn Ngọc M:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ P ly hôn ông Nguyễn Ngọc M.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 17/10/1997 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật T, sinh ngày 01/6/2005; Giao trẻ Nguyễn Nhật T cho bà Võ Thị Mỹ P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Nhật T đối với ông Nguyễn Ngọc M cho đến khi có yêu cầu của bà Võ Thị Mỹ P. Việc giao nhận trẻ Nguyễn Nhật T do hai bên đương sự tự thi hành hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung của vợ chồng và nghĩa vụ dân sự khác của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Võ Thị Mỹ P chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Võ Thị Mỹ P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008381 ngày 02/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Bà Võ Thị Mỹ P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Nguyễn Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 525/2018/HNGĐ-ST ngày 11/05/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:525/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về