Bản án 53/2018/HS-ST ngày 06/08/2018 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 53/2018/HS-ST NGÀY 06/08/2018 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ tên: Tặng Văn C - Sinh năm: 19xx tại huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào.

Nơi cư trú: Bản P, cụm P, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; nghề nghiệp: Nhân dân; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Lào; giới tính: Nam; con ông Tặng Văn L (đã chết) và bà Tặng Thị P - Sinh năm 1948; có vợ: Tặng Thị P - Sinh năm 1968 và có 01 con nuôi sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. 

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2018 đến nay - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Hoài T - Luật sư Văn phòng Luật sư Tthuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

- Người phiên dịch: Ông Nguyễn Ngọc Ch - Cán bộ Công an hưu trí (có mặt). Địa chỉ: Số nhà xx, đường Đ, phường Đ, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 22 giờ15 phút ngày 22/4/2018, tại khu vực suối Cần thuộc địa phận bản Cò Cài, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác của Đồn biên phòng Quang Chiểu thuộc Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang Tặng Văn C, sinh năm 1967, trú tại Bản P, cụm P, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có 06 (sáu) gói ni lon màu xanh và 01 (một) gói nhỏ nilon màu trắng, trong 06 (sáu) gói nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng và viên nén màu xanh đều có ký hiệu “WY”; trong gói nilon màu trắng đựng chất bột màu trắng dạng cục vụn (BL 01, 02, 56, 57…).

Tại bản Kết luận giám định số 877/MT-PC54 ngày 24/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận:

- Túi nilon màu hồng bên trong có 06 (sáu) gói nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng và viên nén màu xanh đều có ký hiệu “WY” có 1185 (một nghìn một trăm tám lăm) viên nén màu hồng là ma túy, có tổng khối lượng 117,928gam (một một bảy phẩy chín hai tám gam) loại: Methamphetamine; 12 (mười hai) viên nén màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 1,298gam (một phẩy hai chín tám gam) loại: Methamphetamine.

- Gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng đục dạng cục vụn là ma túy, có tổng khối lượng 1,231gam (một phẩy hai ba một gam) loại: Heroine (BL 27).

Do có hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-P1 ngày 25/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Tặng Văn C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 BLHS năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Tặng Văn C đã khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 22/4/2018, Tặng Văn C đang đi bộ quanh khu vực bản P, cụm P, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì gặp một người đàn ông Việt Nam, qua giao tiếp bằng tiếng dân tộc Thái thì C biết người đàn ông này tên là L ở bản X, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Người đàn ông tên L đặt vấn đề thuê Tặng Văn C vận chuyển 06 gói ma túy tổng hợp (hồng phiến) và 01 gói nhỏ heroine từ bản P, cụm P, huyện Viêng Xay, Lào sang bản X, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam với số tiền công là 1.000.000 (một triệu) kíp Lào hoặc một gói ma túy tổng hợp (tương đương 200 viên hồng phiến), Tặng Văn C đồng ý nhận lời. Sau đó L đưa cho C một túi nilon màu hồng, C mở ra xem thấy bên trong có 06 gói nilon màu xanh và một gói nhỏ nilon màu trắng; trong 06 gói nilon màu xanh mỗi gói đều chứa 02 viên nén màu xanh cùng các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có hình chữ “WY”; trong gói nilon màu trắng đựng chất bột màu trắng dạng cục vụn là heroine. C gói lại như cũ rồi bỏ vào túi quần bên phải của mình đi bộ cùng L vượt qua biên giới từ nước Lào sang Việt Nam. Vào hồi 21giờ 15 phút cùng ngày, khi C và L đi tới địa phận bản Cò Cài, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam thì bị tổ công tác của Đồn biên phòng Quang Chiểu phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, còn người đàn ông tên L đã chạy vào rừng trốn thoát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Tặng Văn C 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Quan điểm của luật sư: Không tranh luận về tội danh mà VKS đã truy tố mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS như: thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình và nhân thân bị cáo để áp dụng hình phạt mức nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Có đủ căn cứ kết luận về hành vi khách quan của bị cáo Tặng Văn C như sau: Vào hồi 22 giờ 15 phút ngày 22/4/2018, tại khu vực suối Cần thuộc địa phận bản Cò Cài, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, Tặng Văn C đang có hành vi vận chuyển 1.197 viên ma túy tổng hợp và 01 gói nhỏ heroine có tổng khối lượng là 120,457gam ma túy (trong đó Methamphetamine là119,216gam và Heroine là 1,231gam) thì bị tổ công tác của Đồn biên phòng QuangChiểu thuộc Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Bị cáo Tặng Văn C nhận thức rõ việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như pháp luật Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nhưng do coi thường pháp luật và hám lợi nên đã thực hiện hành vi phạm tội nói trên.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gieo giắc thêm tệ nạn xã hội trong nhân dân và làm cho tội phạm ma túy ngày càng phát triển; gây hậu quả xấu về kinh tế, sức khỏe, an ninh xã hội và là nguyên nhân phát sinh thêm các tội phạm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015.

[5] Ý thức chủ quan và động cơ, mục đích của bị cáo là vận chuyển số ma túy trên để hưởng lợi bất chính nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[6] Hành vi của bị cáo Tặng Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của VKS truy tố là có căn cứ. Bị cáo vận chuyển 1.197 viên ma túy tổng hợp và 01 gói nhỏ heroine có tổng khối lượng là 120,457gam ma túy (trong đó Methamphetamine là 119,216gam và Heroine là 1,231gam) nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 4 Điều 250 BLHS năm 2015.

[7] Hành vi của bị cáo phạm tội ở thời điểm sau 0 giờ ngày 01/01/2018 nên HĐXX áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 theo quy định tại khoản 1 Điều7 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14.

 [8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cũng cần được xem xét khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015.

[9] Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung làphạt tiền đối với bị cáo.

 [10] Số ma túy Methamphetamine và Heroine thu được trong vụ án còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu thông cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

 [11] Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí, nên phái nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Tặng Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều47; khoản 1 Điều 7 BLHS 2015; Điều 106; Điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Tặng Văn C 20 (hai mươi) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 23/4/2018.

Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine và Heroine còn lại sau giám định đã được niêm phong và nhập kho cơ quan Thi hành án.(Số tang vật trên hiện đang lưu giữ tại Cơ quan Thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng số TV/2018/75 ngày 28/6/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).

Án phí: Bị cáo Tặng Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án hình sự này là sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dânsự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30Luật thi hành án dân sự.


36
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về