Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 07/05/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 53/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/05/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 29/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2019, về việc: “Yêu cầu ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 27/3/2019, quyết định hoãn phiên toà số: 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày: 16/4/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bùi Thị Quỳnh A, sinh năm: 1960 – (Có mặt). HKTT: tổ 7, ấp BT, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Lê Minh H, sinh năm: 1957 – (Vắng mặt). HKTT: tổ 7, ấp BT, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/12/2018, bản khai ngày 04/3/2019, biên bản hoà giải ngày 07/3/2019 tại Tòa án, và tại phiên toà, nguyên đơn bà Bùi Quỳnh Anh trình bày: bà A chung sống với ông H vào năm 1991, nhưng đến năm 2017 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, không tổ chức lễ cưới, trước lúc chung sống có tìm hiểu nhau. Việc chung sống và kết hôn của ông bà là hoàn toàn tự nguyện, không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Ông H khi uống rượu về thỉnh thoảng có chửi bới đánh đập bà A. Mặc dù bà A đã góp ý cho ông H nhiều lần nhưng ông H không tiếp thu để sửa chữa, mà tình trạng đó cứ kéo dài.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên bà A yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: có 02 con chung là: Lê Thị N, sinh ngày: 20/5/1994 và Lê Thị N, sinh ngày: 10/4/1998. Hiện nay đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: bà A chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay bà A vẫn giữ nguyên ý kiến: Yêu cầu ly hôn với ông H, con chung đều đã trưởng thành. Chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Theo bản khai ngày 26/3/2019, biên bản hoà giải ngày 07/3/2019 tại Toà án, bị đơn ông LMH trình bày: về thời gian, điều kiện chung sống và kết hôn ông H công nhận đúng như bà A đã trình bày.

Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc với nhau, tuy thỉnh thoảng có vài mâu thuẫn nhỏ. Thỉnh thoảng ông H có uống rượu về rồi rầy la, chửi bới, đánh đập bà A, nhưng đó chỉ là nóng nảy nhất thời.

Nay bà A yêu cầu ly hôn thì ông H không đồng ý ly hôn với bà A.

Về con chung: có 02 con chung là: Lê Thị N, sinh ngày: 20/5/1994 và Lê Thị N, sinh ngày: 10/4/1998. Hiện nay đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: ông H chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Lê Minh H dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay ông H vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án trong một số phiên hoà giải và tại phiên toà dù đã được triệu tập hợp lệ là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Quỳnh A đối với ông Lê Minh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật và hướng giải yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: bà Bùi Thị Quỳnh A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà A ly hôn với ông Lê Minh H. Đây là tranh chấp về yêu cầu ly hôn, theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông H.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa bà A và ông H là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 09) nên là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng bà A trình bày là có mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Ông H khi uống rượu về thỉnh thoảng có chửi bới đánh đập bà A. Còn ông H thì cho rằng không có mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên ông H thừa nhận khi uống rượu về có chửi bới, đánh đập bà A ( Bút lục số: 26,29 ). Điều đó chứng tỏ: giữa bà A và ông H không còn yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau. Làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà A không còn muốn duy trì cuộc sống hôn nhân với ông H nữa. Vì vậy, mặc dù ông H không đồng ý ly hôn với bà A, nhưng việc bà A yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của bà A. Về hôn nhân bà A được ly hôn với ông H.

[3] Về con chung: có 02 con chung là: Lê Thị N, sinh ngày: 20/5/1994 và Lê Thị N, sinh ngày: 10/4/1998. Hiện nay đều đã trưởng thành.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do bà A và ông H đều chưa yêu cầu toà án giải quyết (Bút lục số: 29), nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này các bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định.

[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên bà A phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các điều 56, 59, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Quỳnh A đối với ông LMH.

[1] Về hôn nhân: bà Bùi Thị Quỳnh A được ly hôn với ông LMH.

[2] Về con chung: có 02 con chung là: Lê Thị N, sinh ngày: 20/5/1994 và Lê Thị N, sinh ngày: 10/4/1998. Hiện nay đều đã trưởng thành.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: bà A và ông H chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí: bà A phải nộp 300.000Đ (Ba trăm ngàn) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ (Ba trăm ngàn) mà bà A đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006573 ngày 18/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Bà A đã nộp đủ án phí.

[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


22
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 07/05/2019 về yêu cầu ly hôn

      Số hiệu:53/2019/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:07/05/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về