Bản án 53/2019/HS-ST ngày 19/07/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 53/2019/HS-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HS ngày 09/7/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, tên gọi khác: C; sinh ngày 02/6/1992; Nơi cư trú: Khu phố 5, phường B TP. P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa 01/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị H; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2019, tạm giam từ ngày 21/02/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm (có mặt).

Những người làm chứng:

1. Ông Lê Hữu M, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn L 02, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Khắc A, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố 1, Phường K, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 19 giờ 00 phút, ngày 15/02/2019, sau khi nói chuyện điện thoại với Lê Hữu Minh về việc mua bán ma túy, Nguyễn Văn T hẹn M đến nhà T tại khu phố 5, phường B, TP. P để bán cho M 01 tép ma túy (Hêrôin) với giá 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Khi M đến gặp T và đưa cho T số tiền 200.000đ, T nhận tiền xong đưa cho M một tép ma túy thì bị lực lượng Công an Phòng C04 Công an tỉnh Ninh Thuận bắt quả tang đối với T và M, đồng thời thu giữ trên tay của M 01 tép ma túy (Hêrôin) vừa mua, thu giữ trên tay T số tiền 200.000đ vừa bán ma túy, thu giữ trong túi quần bên trái của T 01 bịch nylon (dạng túi kéo) bên trong có chứa chất ma túy (Hêrôin) dạng cục, màu trắng. Ngoài ra, lực lượng Công an kiểm tra chỗ ở của T còn phát hiện và thu giữ 01 hộp quẹt ga, 01 dao lam, 01 điện thoại di động hiệu LVMobile màu trắng cam (điện thoại liên lạc dùng bán ma túy cho M), 09 bơm kim tiêm, 10 ống hút nhựa màu trắng. Quá trình bắt quả tang Nguyễn Văn T có Nguyễn Khắc A (sinh năm 1983) là bạn cùng sử dụng ma túy với T chứng kiến toàn bộ sự việc. Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã khai nhận ngoài hành vi bị bắt quả tang lúc 19 giờ 00 phút, ngày 15/02/2019 thì khoảng 15 giờ ngày 13/02/2019 tại nhà của T, T bán cho M 01 tép ma túy với giá 200.000đ. Số ma túy trên có được là do T đi vào bến xe Miền Đông TP. Hồ Chí Minh mua 02 lần của 01 người tên Q (không rõ nhân thân), sau đó về phân chia thành nhiều tép nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Kết luận giám định số 40/KLGĐ ngày 19/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục chứa trong 01 đoạn ống nhựa và 01 bịch nylon nhựa gửi đến giám định (ký hiệu M1, M2) là ma túy, loại hêrôin; khối lượng mẫu giám định là: M1: 0,0470g; M2:1,3949g. Mẫu vật hoàn lại sau giám định là M1: 0,0307g; M2:1,2066g.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về Kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSPRTC ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát TP. Phan Rang – Tháp Chàm, truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân TP. Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Trung từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù. Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài, liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 13/02/2019 đến ngày 15/02/2019 tại nhà bị cáo Nguyễn Văn T ở khu phố 5, phường B, TP. P bị cáo T đã thực hiện hành vi bán chất ma túy cho Lê Hữu M 02 lần, mỗi lần bán 01 tép với giá 200.000đ, thu lợi được số tiền 400.000đ. Số ma túy bị bắt quả tang ngày 15/02/2019 theo Kết luận giám định số 40/KLGĐ ngày 19/02/2019 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận là ma túy, loại hêrôin, trọng lượng 1,4419g. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung phạm tội 02 lần trở lên theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy; Tội phạm về ma túy ngày một gia tăng trong thời gian gần đây, là nguyên nhân để gây ra các loại tội phạm khác nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Ngoài hành vi bị bắt quả tang bị cáo còn tự nguyện khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy ngày 13/02/2019 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là tự thú. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ Luật hình sự để chuyển sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cho bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

Đi với Lê Hữu M, trong khoảng thời gian từ 13/02/2019 đến 15/02/2019 đã có 02 lần mua ma túy của Nguyễn Văn T để sử dụng trái phép. Đối với Nguyễn Khắc A, vào ngày 15/02/2019, A đã có mặt và chứng kiến việc trung bán ma túy cho M, qua xét nghiệm A đương tính với ma túy. A đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của Lê Hữu M và Nguyễn Khắc A đã vi phạm vào khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013 của Chính phủ nên Công an tỉnh Ninh Thuận đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M là đúng quy định pháp luật.

Đi với người đàn ông tên Q bán ma túy cho Nguyễn Văn T 02 lần tại bến xe Miền Đông chưa rõ nhân thân nên chưa có căn cứ để xử lý.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu LVMobile màu trắng cam, có số IMEI: 842017181007978 bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy và số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) là tiền mà T bán ma túy cho M nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 hộp quẹt ga, 01 dao lam, 09 bơm kim tiêm, 10 ống hút nhựa màu trắng và 1,2373g chất ma túy còn lại sau giám định đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên nên Hội đồng xét xử xét phải tịch thu tiêu hủy.

[6] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền số tiền 200.000đ mà bị cáo thu được từ việc bán ma túy cho Lê Hữu M ngày 13/02/2019, đây là số từ thu lợi bất chính từ hành hành phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) để sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 15/02/2019.

Về xử lý vật chứng:

Tch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu LVMobile màu trắng cam, có số IMEI: 842017181007978; số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng);

Tch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt ga, 01 dao lam, 09 bơm kim tiêm,10 ống hút nhựa màu trắng và chất ma túy còn lại sau giám định là 1,2373g chất ma túy.

Theo biên bản giao nhận vất chứng lúc 10 giờ 30 phút ngày 08/5/2019 giữa Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp lại số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) do thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Buc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2019.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về