Bản án 53/2019/HS-ST ngày 19/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 53/2019/HS-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/HSST-QĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn Q, tên gọi khác: không, sinh năm 1984; tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội H, thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn X và bà Hắc Thị T; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, bị cáo có 01 con sinh năm 2010; tiền án: Có 2 tiền án, tại bản án số 63/2016/HSST, ngày 28 tháng 7 năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại bản án số 20/2018/HSPT, ngày 05 tháng 4 năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện E từ ngày 08 tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Quốc Tiến, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn a, xã N, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Buôn Y, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07 tháng 5 năm 2019, Lê Văn Q đi bộ trên đường liên xã thuộc thôn 7, xã Ea Nam, huyện E. Khi Q đi bộ qua nhà ông Trần Quốc T ở thôn 7, xã Ea Nam, huyện E, tỉnh Đăk Lăk thì phát hiện 01 xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 0512, hiệu Hadosiva, đang dựng bên hông nhà, chìa khóa vẫn đang cắm trên ổ khóa điện, nên Q nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. Q đến đắt xe ra ngoài đường rồi nổ máy điều khiển xe mô tô đi đến xã Ea Kuêh, huyện M, tỉnh Đăk Lăk, gạ bán cho anh Nguyễn Văn Đ ở Buôn Y, xã K, huyện M, tỉnh Đăk Lăk. Do nghi ngờ xe Q trộm cắp nên anh Đ đã trình báo Công an xã K, huyện M. Tại Công an xã K, huyện M, Lê Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.

Tại Biên bản định giá tài sản số 316/BB-ĐGTS ngày 08 tháng 5 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản huyện E, kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 0512, hiệu Hadosiva, có giá trị là 2.200.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva, biển kiểm soát 73K2 - 0512. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva, biển kiểm soát 47K2 - 0512 cho ông Trần Quốc T là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ông Tiến không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố để xét xử đối với bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08 tháng 5 năm 2019).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva, biển kiểm soát 73K2 - 0512 cho ông Trần Quốc T là chủ sở hữu hợp pháp.

2 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì mặt dân sự, nên không đề cập xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng thời gian 14 giờ, ngày 07 tháng 5 năm 2019 trên địa bàn thôn A, xã N, huyện E, tỉnh Đắk lắk, bị cáo Lê Văn Q đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô của ông Trần Quốc T. Giá trị các tài sản mà bị cáo trộm cắp được xác định là 2.200.000 (Hai triệu hai trăm ngàn đồng)

Tại khoản 1 và điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

g. Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, hành vi lén lút trộm cắp tài sản nói trên của bị cáo Q đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo Lê Văn Q có 02 tiền án, tại bản án số 63/2016/HSST, ngày 28 tháng 7 năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại bản án số 20/2018/HSPT, ngày 05 tháng 4 năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích mà lại 3 tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm b, khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý”. Như vậy, hành vi của bị cáo Quân đã phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Lời luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, xét mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là hơi cao so với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nên Hội đồng xét xử cần cân nhắc để quyết định một hình phạt tương xứng đối với hành vi của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành những người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã được trả lại cho các bị hại. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, trong quá trình tẩu tán tài sản đã bị phát hiện, tài sản đã được giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần QuốcT không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

[5]. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện E đã giao trả 01 xe mô tô, hiệu Hadosiva, biển số 73K2-0512 cho ông Trần Quốc Tiến là chủ sở hữu hợp pháp.

[6]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Q phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Q 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08 tháng 5 năm 2019).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện E đã giao trả 01 xe mô tô, hiệu Hadosiva biển số 73K2-0512 cho ông Trần Quốc Tiến là chủ sở hữu hợp pháp.

(Đặc điểm vật chứng được mô tả tại biên bản thu giữ, giao nhận vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án)

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Trần Quốc Tiến vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HS-ST ngày 19/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:53/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea Kar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về