Bản án 53/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 53/2019/HS-ST NGÀY 27/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Cao Văn H; sinh năm: 1990, tại Nghệ An; thường trú: xóm Sơn Thành, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao

Văn Đ và bà: Phan Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày: 19/11/2018 (có mặt).

Bị hại: ông Trần Danh H1, sinh năm: 1987; thường trú: xóm B, xãT, thành phố HT, tỉnh HT; chỗ ở: 164A Lê Thị H, phường B, quận TĐ, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 19/11/2018, Cao Văn H gặp Long và Hùng (không rõ lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội tại khu vực phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức. Tại đây, Long rủ Hùng và H đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thìHùng và H đồng ý. Long lấy 01 bộ cây đoản dùng để bẻ ổ khóa xe đưa cho H giữ rồi điều khiển xe mô tô Exciter màu đỏ không rõ biển số chở H còn Hùng điều khiển xe mô tô Exciter màu đen không rõ biển số đi lòng vòng trên địa bàn phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức để tìm tài sản sơ hở lấy trộm. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày khi đi đến trước dãy phòng trọ số 30 Đường 17, Khu phố 5, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức thì Long phát hiện 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen biển số 38P1-501.51 của anh Trần Danh H1 đang dựng trước dãy phòng trọ không có người trông coi nên Long vàHùng quay lại dừng xe trước dãy phòng trọ đứng ngoài cảnh giới còn H đi bộ đến chiếc xe dùng đoản bẻ ổ khóa xe rồi lên xe chạy đi được khoảng 5m thìbị chị Trần Thị Mỹ Hạnh phát hiện tri hô, kéo xe lại làm H ngã xuống đất, H bỏ xe chạy bộ về hướng đường số 10 thì bị bắt giữ, Long và Hùng điều khiển xe chạy thoát.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Cao Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTĐ ngày 25/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Cao Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Cao Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Cao Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cao Văn H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Bị cáo Cao Văn H không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ vàtài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 19/11/2018, trước dãy phòng trọ số 30 Đường 17, Khu phố 5, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Cao Văn H và 02 người thanh niên tên Long và tên Hùng (không rõlai lịch) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Sirius màu đen biển số 38P1-501.51 của anh Trần Danh H1 thì bị phát hiện bắt quả tang H cùng vật chứng. Đối với 02 người thanh niên tên Long và tên Hùng đã bỏ trốn chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thủ Đức tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Kết luận định giá tài sản số 2309 ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen xám biển số 38P1-501.51 trị giá 18.892.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cao Văn H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa pHương nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

 [3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu;

 [4] Về xử lývật chứng vàtrách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Danh H1 đã nhận lại tài sản vàkhông yêu cầu gìnên không xem xét.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với số vật chứng còn lại gồm: 01 thanh đoản chữ T bằng kim loại dài 4Cm, rộng 11cm đầu đoản dài 8cm; 02 đầu đoản bằng kim loại dài 8cm; 01 nam châm phá khóa bằng kim loại màu vàng dài 5cm; 01 chìa khóa đã mài đầu nhọn dài 7cm; 01 chìa khóa đã mài đầu nhọn dài 4cm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

 [5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố bị cáo Cao Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Cao Văn H: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tùtính từ ngày 19/11/2018.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả cho bị cáo Cao Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh đoản chữ T bằng kim loại dài 4Cm, rộng 11cm đầu đoản dài 8cm; 02 đầu đoản bằng kim loại dài 8cm; 01 nam châm phákhóa bằng kim loại màu vàng dài 5cm; 01 chìa khóa đã mài đầu nhọn dài 7cm; 01 chìa khóa đã mài đầu nhọn dài 4cm.

 (Theo phiếu nhập kho số NKT2019/80 ngày 25/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ ChíMinh)

4- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:53/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về