Bản án 54/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 54/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/08/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 267/2018/TLST- HNGĐ ngày 24/4/2018 về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2018/QĐXX - ST ngày 19/7/2018. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N - Sinh: 1994

ĐKHKTT: Tổ 1, khu 12, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;

Tạm trú: Tổ 84, khu 8, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;

Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Vũ Văn H - Sinh: 1993

ĐKHKTT: Tổ 1, khu 12, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 16/4/2018, bản tự khai ngày 18/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày: giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Vũ Văn H chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 09/9/2013, đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố H, đăng ký kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn anh H và Tôi (N) chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H không tu chí lo cho gia đình vợ con, luôn chơi cờ bạc dẫn đến nợ, gia đình phải trả nợ thay, nhưng anh H luôn tái diễn không thay đổi, Tôi (N) đã phải đưa 02 con về nhà ngoại ở từ tháng 4 năm 2017 cho đến nay anh H vẫn không có trách nhiệm với vợ con. Nay Tôi (N) xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Tôi được ly hôn anh Vũ Văn H.

- Về con: Vợ chồng sinh được 02 con chung là Vũ Thị Phương A- sinh: 01/10/2013 và Vũ Gia H - sinh: 25/12/2015. Tôi (N) đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi đủ 18 tuổi và Tôi yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi con là 1.000.000 đ/tháng.

- Về tài sản và nợ: Tôi (N) xác nhận không có sản chung và không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Vũ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ ngày 18/5/2018 và ngày 30/5/2018, nhưng anh Vũ Văn H đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa anh H có mặt trình bày: xác nhận về thời gian điều kiện đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh mãi chơi không lo cho vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô xát. Vợ chồng không ai quan tâm đến ai và đã ly thân được gần 02 năm. Nay chị N khởi kiện xin ly hôn, Tôi (H) đồng ý ly hôn với chị N.

- Về con: Vợ chồng sinh được 02 con chung là Vũ Thị Phương A - sinh: 01/10/2013 và Vũ Gia Huy - sinh: 25/12/2015. Nếu ly hôn, Tôi (H) đề nghị chị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, về cấp dưỡng nuôi con Tôi (H) cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi con là 1.000.000 đ/tháng.

- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, quan điểm trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Vũ Văn H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được pháp luật bảo vệ. Chị N xác nhận cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H chơi cờ bạc dẫn đến nợ, anh H luôn tái diễn cờ bạc không thay đổi, không quan tâm đến vợ con, chị N đã bỏ về nhà ngoại ở, không quan tâm đến anh H nữa.

Ngày 04/7/2018, Tòa án nhân dân thành phố H có điều tra xác minh ở địa phương nơi anh chị chung sống, thể hiện anh H có chơi cờ bạc không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng cãi vã, tổ dân phố thấy chị N đã bỏ về nhà ngoại ở, không còn sống chung với anh H nữa.

Tại phiên tòa anh H cũng đồng ý ly hôn chị N.

Từ những phân tích trên, thấy tình cảm vợ chồng thực sự không ai quan tâm đến ai, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị N là cần thiết.

[2] Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thị Phương Anh - sinh: 01/10/2013 và Vũ Gia Huy - sinh: 25/12/2015. Chị N có nguyện vọng được nuôi 02 con, thấy phù hợp với quan điểm của anh H tại phiên tòa. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, nên chấp nhận yêu cầu được nuôi 02 con của chị N

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con cho mỗi con là 1.000.000 đ/tháng. Thấy yêu cầu của chị N là đúng pháp luật, nên buộc anh H phải thực hiện nghĩa vụ của người cha không trực tiếp nuôi con.

[4] Về tài sản và nợ: Chị N và anh H xác nhận không có tài sản chung, vợ chồng không có khoản nợ nào chung của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không đề cập.

[5] Về án phí: Chị N chịu án phí ly hôn, anh H chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, Điều 28; khoản 4, Điều 147; điểm d, khoản 3, Điều 203; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị N

Chị Bùi Thị N được ly hôn anh Vũ Văn H.

2. Về con:

- Giao con chung Vũ Thị Phương A - sinh: 01/10/2013 và Vũ Gia H - sinh: 25/12/2015 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

- Anh Vũ Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng)/tháng, kể từ tháng 9/2018 cho đến khi mi con đủ 18 tuổi.

- Anh Vũ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ: Không đề cập.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị N chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị N đã nộp tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai số: 0002760 ngày 23/4/2018, tại chi cục thi hành án dân sự thành phố H, nay chuyển thành án phí ly hôn chính thức). Anh Vũ Văn H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử công khai, có mặt chị Nguyệt, anh H. Báo quyền kháng cáo cho các đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về ly hôn

Số hiệu:54/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về