Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2019/TLST-HN ngày 07 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST-HN ngày 11 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu Tr, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp TH, xã THT, huyện TP, tỉnh T (xin vắng mặt).

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp TH1, xã THT1, huyện TP1, tỉnh TG (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Ti đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn P do quen biết được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2005 có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TT, tỉnh B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 30-6- 2005. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu. Đến năm 2016, vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống cự cãi nhau do anh P không lo làm ăn để chăm lo cho gia đình, mặc dù cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng không đạt được. Từ năm 2016, chị và anh P sống ly thân cho đến nay. Nay chị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Về nuôi con chung: Quá trình sống chung có một con chung Nguyễn Văn Nhã A, sinh ngày 02-3-2006; hiện nay con chung đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn Nguyễn Văn P:

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh P nhiều lần nhưng anh P vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Tr tranh chấp yêu cầu ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Văn P, địa chỉ: ấp TH1, xã THT1, huyện TP, tỉnh TG nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Tr có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu Tr và anh Nguyễn Văn P được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới sống chung và có đăng ký kết hôn năm 2005, quan hệ hôn nhân giữa chị Tr và anh P là hôn nhân hợp pháp. Xét tình cảm giữa chị Tr và anh P sống chung hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Tr là anh chị bất đồng quan điểm sống dẫn đến cự cãi nhau, anh chị có tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không hàn gắn được. Đến năm 2016, chị đã về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay, thời gian ly thân anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau cũng không có liên lạc hàn gắn hạnh phúc. Chị Tr cương quyết xin ly hôn do không còn tình cảm với anh P, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Tr.

[4] Về nuôi con chung: Quá trình sống chung có một con chung Nguyễn Văn Nhã A, sinh ngày 02-3-2006. Hiện nay con chung đang sống chung với chị Tr và cháu A có nguyện vọng được sống cùng chị Tr khi Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Văn Nhã A đang sống ổn định với chị Tr nên cần tiếp tục giao cháu Nhã A cho chị Nguyễn Thị Thu Tr trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống và tâm lý cho cháu A. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trang, giao con chung Nguyễn Văn Nhã A, sinh ngày 02-3-2006 cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thu Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Tr phải chịu án phí HNST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khon 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Khon 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;  khon 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khon 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu Tr và anh Nguyễn Văn P.

2.Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Nhã A, sinh ngày 02-3-2006 cho chị Nguyễn Thị Thu Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Văn P có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn P chưa phải đóng góp nuôi con chung do chưa có yêu cầu.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Tr phải chịu 300.000 đồng án phí HNST được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 19864 ngày 07-6-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị Tr đã nộp đủ án phí HNST.

5. Quyền kháng cáo: Chị Tr, anh P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về