Bản án 54/2019/HS-ST ngày 03/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 54/2019/HS-ST NGÀY 03/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Sanh Q, sinh năm 1991 tại Bình Phước; nơi cư trú khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Sanh Q, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là chị Lâm Thị Anh T, sinh năm 1999 và 01 người con, sinh năm 2018; tiền án: Không, Tiền sự: 01- Ngày 15/6/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là Thành phố Đ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 27/2018/QĐ-TA với thời gian 18 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2018 cho đến nay “bị cáo có mặt”.

Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1973; nơi cư trú khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

Chị Kiều Thị Thanh D, sinh năm 1983; nơi cư trú khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân là người thường xuyên sử dụng chất ma túy, nên vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Sanh Q gọi điện thoại cho một người thanh niên tên M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá thì M đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter (không rõ biển số) đến gặp Q tại phòng trọ của Q, tại khu phố 3, phường T, thành phố Đ. Tại đây, Q đưa cho M 1.000.000 đồng và M đưa lại cho Q 01 bọc nilon bên trong chứa ma túy rồi M bỏ đi. Q lấy số ma túy trên chia nhỏ thành 07 gói nilon rồi cho vào ví da để sử dụng. Khoảng 19 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2018 Q lấy 01 gói ma túy ra sử dụng tại phòng trọ của mình. Đến khoảng 20 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2018 Q tiếp tục lấy 01 gói ra sử dụng tại phòng trọ của mình.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23 tháng 12 năm 2018, Q mang theo 05 gói ma túy đi đến quán cà phê V, thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ để sử dụng. Khi đến Q vào chòi số 05 chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra bắt quả tang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đ thu giữ: 05 gói ma túy, 01 ví da, 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số tiền 350.000 đồng, 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Sanh Q, đồng thời ra lệnh khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Q thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 kéo kim loại.

Tại bản kết luận giám định số 407/2018/GĐKTHS ngày 27 tháng 12 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:

Tinh thể màu trắng có trong 05 (năm) gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,8919 gam (không phẩy tám chín một chín gam) loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-ĐX ngày 04/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Nguyễn Sanh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Sanh Q mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ được bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy, 01 bóp da màu nâu. Tịch thu sung Công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Oppo và số tiền 350.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Q 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Sanh Q.

Bị cáo Q tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-ĐX ngày 04/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với kết luận điều tra, với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/12/2018 Nguyễn Sanh Q đã gọi điện thoại cho một người thanh niên tên M (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy thì M đồng ý và đến 20 giờ cùng ngày M điều khiển xe mô tô Exciter (không rõ biển số) xuống phòng trọ của Q tại khu phố 03, phường T, thành phố Đ giao số ma túy cho Q, sau khi chia nhỏ số ma túy ra làm 07 gói nilon và sử dụng 02 gói ma túy thì đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2018 khi Q mang theo 05 gói ma túy đi đến quán cà phê V, thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 407/2018/GĐKTHS ngày 27 tháng 12 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:

Tinh thể màu trắng có trong 05 (năm) gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,8919 gam (không phẩy tám chín một chín gam) loại Methamphetamine.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào khối lượng 0,8919 (không phẩy tám chín một chín) gam ma túy loại Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc cất giấu ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Song, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

[5] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của con người. Bị cáo đã có 01 tiền sự: Ngày 15/6/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là Thành phố Đ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 27/2018/QĐ-TA với thời gian 18 tháng nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 01 con còn nhỏ, bị cáo có thời gian tham gia phục vụ trong quân đội và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Đối với người thanh niên tên Mèo có hành vi bán ma túy đá cho bị cáo Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đang tiếp tục xác minh, điều tra để có căn cứ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ được bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy; tịch thu tiêu hủy 01 bóp da nâu, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo (đã cũ, không lên nguồn).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sanh Q 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Sanh Q.

Đối với số tiền 350.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan vụ án nhưng tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sanh Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/12/2018.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 bì thư ký hiệu vụ số 407 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong, đóng dấu giáp lai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 đoạn ống hút nhựa; 01 kéo kim loại; 01 chai nhựa; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng đã cũ (không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong) và ví da màu nâu;

Trả lại cho bị cáo Q 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Sanh Q.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 350.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001673, quyển số 0034, ký hiệu D47/2017 ngày 04/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đ).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HS-ST ngày 03/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:54/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về