Bản án 55/2017/HS-ST ngày 23/08/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 55/2017/HS-ST NGÀY 23/08/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Bờ Ngoong, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2017/HSST ngày 24/7/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1997 tại huyện C, tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn 1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Minh B (chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01. Ngày 26/01/2016 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại

1. Anh Siu T, sinh ngày 06/12/1999; Trú tại: Thôn G, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho anh Siu T: Ông Siu C, sinh năm 1969 và bà Siu P, sinh năm 1967 (là bố mẹ đẻ của Siu T); Trú tại: Thôn G, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai. Đều vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Siu A, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn G, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

3. Anh Đinh C, sinh năm 1996; Trú tại: Làng S, xã K, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại Siu T, Siu A, Đinh C: Ông Thái Quốc T – Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị C, sinh năm 1972; Trú tại: Thôn 1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Bà Nay H’Chim – Cán bộ Trung tâm y tế huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 03/01/2017, anh Siu T, Siu A cùng với chị Rah Lan Nguyệt và chị Rơ Lan Im đang nằm ngủ trên giường tại nhà ông Ra Lan Bye ở làng G, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nghe tiếng ồn ào ngoài sân thì anh Siu T thức giấc mở mắt ra nhìn thấy Nguyễn Ngọc T đang đứng ở ngay đầu giường và nói: “Sao mày nhìn tao” đồng thời tay phải của T cầm cái ghế gỗ (cao khoảng 10 cm, rộng khoảng 40 cm) đập liên tiếp 03 cái vào đầu và 01 cái vào vai của Siu T. Lúc này, Siu T ngồi dậy chưa kịp phản ứng thì T lấy trong túi áo khoác của T ra 01 con dao thái lan dài khoảng 20 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng. Thấy T cầm dao thì Siu T đứng dậy nhảy ra khỏi giường, cùng lúc này T cầm dao đâm ngang trúng vào đùi phải của Siu T, sau khi bị T đâm trúng vào đùi thì T nhảy xuống khỏi giường và bỏ chạy ra ngoài. T đuổi theo ra khỏi cửa thì T quay lại và nhìn thấy gần giường ngủ có 01 thanh gỗ dài khoảng 60 cm, tay trái T nhặt cầm lên, tay phải cầm dao đi lại chiếc giường (lúc này anh Siu A và chị Rah Lan Nguyệt, Rơ Lan Im vẫn còn đang ngủ trên giường), tay trái T cầm thanh gỗ đánh liên tiếp vào vùng đầu của Siu A, bị đánh bất ngờ nên Siu A bật dậy và nhảy ra khỏi giường bỏ chạy ra ngoài trốn, sau đó T điều khiển xe mô tô biển số 81H2- 9595 bỏ đi.

Đến khoảng hơn 01 giờ 30 phút ngày 03/01/2017, sau khi đã gây thương tích cho các anh Siu T và Siu A thì T đi xe mô tô 81H2 - 9595 một mình đến khu vực nhà mã thuộc làng Q, xã D, huyện C thì nhìn thấy anh Đinh C đang cùng với một số thanh niên làng Queng Mép ngồi uống rượu trong nhà mã. T đến gần anh Đinh C nói: “Xe của ai đây?” thì anh C trả lời: “xe của tôi”. Ngay lúc này T dùng tay phải đấm vào vùng mặt anh C, thấy vậy thì C liền dùng tay đánh lại T, T rút dao ra đâm liên tiếp trúng vào vùng nách trái và vùng lưng phải của C. Bị T đâm trúng thì Đinh C bỏ chạy trốn vào vườn cà phê.

Siu T, Siu A và Đinh C được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện Chư Sê. Đến ngày 08/01/2017 thì Siu A xuất viện, ngày 11/01/2017 thì Siu T và Đinh C xuất viện. Ngày 23/01/2017, các anh Siu T, Siu A và Đinh C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày 24/01/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai giám định mức độ tổn hại sức khỏe của các anh Siu T, Siu A và Đinh C.

+ Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 17/02/2017 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Siu A là 02%.

+ Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 24/TgT-TTPY ngày 17/02/2017 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Siu T là 03%.

+ Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 25/TgT-TTPY ngày 02/3/2017 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đinh C là 08%.

Sau khi gây án Nguyễn Ngọc T đã bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 07/5/2017 thì bị bắt.

Về vật chứng:

- 01 con dao thái lan dài khoảng 20 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, sau khi sử dụng đâm anh Siu T và Đinh C, trên đường đi qua khu vực nhà mã của làng Q, xã D, huyện Chư Sê thì T đã làm rơi không rõ tại vị trí nào; 01 ghế gỗ cao khoảng 10 cm, rộng khoảng 40 cm và 01 thanh gỗ dài khoảng 60 cm mà T sử dụng đánh anh Siu T và Siu A là T lấy tại nhà ông Ra Lan Bye, sau khi đánh xong T đã bỏ lại cái ghế, thanh gỗ trên tại nhà ông Ra Lan Bye. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thấy.

- 01 xe mô tô biển số 81H2 – 9595, nhãn hiệu Super Halim, loại xe nữ, màu sơn nâu, số máy: E1881978, số khung: 00328033269 là xe thuộc sở hữu của bà Trần Thị C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê đã tiến hành xác minh làm rõ khi T sử dụng xe mô tô trên đi gây án thì bà Chiên không biết nên không thu giữ xe mô tô 81H2 – 9595 là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra các bị hại có yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường như sau:

+ Anh Siu T yêu cầu bồi thường số tiền 6.570.000 đồng, trong đó: 1.570.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần và tiền ngày công lao động cho anh Siu T. Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường số tiền nào cho anh Siu T.

+ Anh Siu A yêu cầu bồi thường số tiền 5.985.000 đồng, trong đó: 985.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần và tiền ngày công lao động cho anh Siu A. Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường số tiền nào cho anh Siu A.

+ Anh Đinh C yêu cầu bồi thường số tiền 6.304.000 đồng, trong đó: 1.304.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần và tiền ngày công lao động cho anh Đinh C. Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường số tiền nào cho anh Đinh C.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 24/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a, c, i khoản 1 Điều 104; điểm p, h khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Siu T số tiền số tiền 6.570.000 đồng, bồi thường cho anh Siu A số tiền 5.985.000 đồng, bồi thường cho anh Đinh C số tiền 6.304.000 đồng.

Về vật chứng: Miễn xét.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại có ý kiến: Về tội danh đối với bị cáo, đồng ý với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật; về dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại theo yêu cầu của người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Giữa bị cáo với các anh Siu T, Siu A và Đinh C không có mâu thuẫn gì. Nhưng do trước đây bị cáo đi chơi ở làng G, xã D, huyện C bị thanh niên trong làng chặn đường, hăm dọa, đòi đánh nên vào lúc 01 giờ ngày 03/01/2017 sau khi uống rượu xong bị cáo đã đến nhà ông Ra Lan Bye thì thấy anh Siu T, Siu A cùng với chị Rah Lan Nguyệt và chị Rơ Lan Im đang nằm ngủ trên giường nên đã dùng cái ghế gỗ (cao khoảng 10 cm, rộng khoảng 40 cm) đánh anh Siu T và dùng dao đâm trúng đùi Siu T, sau khi Siu T bỏ chạy ra ngoài thì T tiếp tục dùng 01 thanh gỗ đánh vào đầu của anh Siu A.

Đến khoảng hơn 01 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo một mình đến khu vực nhà mã thuộc làng Q, xã D, huyện Chư Sê và tiếp tục đánh anh Đinh C đang ngồi uống rượu tại nhà mã rồi dùng dao đâm trúng vào vùng nách trái và vùng lưng phải của anh Châm. Hậu quả làm anh Siu T bị thương tích 02%, Siu A bị thương tích 03% và Đinh C bị thương tích 08% sức khỏe.

Xét thấy tại phiên toà, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo dùng ghế, thanh gỗ và dao gây thương tích cho các anh Siu T, Siu A, Đinh C. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bản thân bị cáo nhận thức được sức khỏe của con người là vốn quí, được pháp luật bảo vệ đặc biệt, mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác đều bị pháp luật xử lý nghiêm minh. Giữa bị cáo và các bị hại không có mâu thuẫn từ trước, chỉ vì trước đây bị cáo bị thanh niên trong làng hăm dọa, đòi đánh nên muốn tìm đánh lại để trả thù nên đã gây thương tích cho các bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn xâm hại đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng giáo dục cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo mất sớm, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê cho rằng “bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, khoản 1, Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “sử dụng công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” đã bị Chủ tịch UBND xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 26/01/2016. Bị cáo có hành vi gây thương tích cho nhiều người, ở nhiều vị trí địa lý khác nhau, mỗi lần gây thương tích đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm; do đó lần phạm tội này của bị cáo không thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu”. Nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Siu T yêu cầu bị cáo bồi thường 6.570.000 đồng (trong đó 1.570.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm và thu nhập thực tế bị giảm sút).

Anh Siu A yêu cầu bồi thường số tiền 5.985.000 đồng (trong đó 985.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm và thu nhập thực tế bị giảm sút).

Anh Đinh C yêu cầu bồi thường số tiền 6.304.000 đồng (trong đó 1.304.000 đồng là tiền thuốc men, 5.000.000 đồng là bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm và thu nhập thực tế bị giảm sút).

Căn cứ Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của các anh Siu T, Siu A và Đinh C là có cơ sở và cần được xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường cho các anh Siu T, Siu A và Đinh C theo như số tiền người bị hại yêu cầu, căn cứ khoản 1 Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 con dao thái lan dài khoảng 20 cm, cán dao bằng nhựa màu vàng bị cáo T đã sử dụng đâm anh Siu T và Đinh C, trên đường đi qua khu vực nhà mã của làng Q, xã D, huyện C thì T đã làm rơi không rõ tại vị trí nào; 01 ghế gỗ cao khoảng 10 cm, rộng khoảng 40 cm và 01 thanh gỗ dài khoảng 60 cm mà T sử dụng đánh anh Siu T và Siu A là T lấy tại nhà ông Ra Lan Bye, sau khi đánh xong T đã bỏ lại cái ghế, thanh gỗ trên tại nhà ông Ra Lan Bye. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thấy nên miễn xét.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 81H2 – 9595, nhãn hiệu Super Halim, loại xe nữ, màu sơn nâu, số máy: E1881978, số khung: 00328033269. Qua điều tra xác định đây là xe thuộc sở hữu của bà Trần Thị C, khi T sử dụng xe mô tô trên đi gây thương tích thì bà Chiên không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê không thu giữ xe mô tô 81H2 – 9595 là phù hợp nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a, c, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 07/5/2017).

2. Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự: Xử: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho anh Siu T số tiền số tiền 6.570.000 đồng, bồi thường cho anh Siu A số tiền 5.985.000 đồng, bồi thường cho anh Đinh C số tiền 6.304.000 đồng.

3. Căn cứ theo Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử: buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 942.950đ (Chín trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, bị cáo, các bị hại có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2017/HS-ST ngày 23/08/2017 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:55/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Sê - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về