Bản án 55/2018/DS-PT ngày 10/09/2018 về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 55/2018/DS-PT NGÀY 10/09/2018 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 10 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2018/TLPT-DS ngày 16 tháng 7  năm 2018 về “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2018/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã A bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 251/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tạ Thành S (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Thị C (vợ ông S) (văn bản ủy quyền ngày 13/8/2018) (có mặt).

Đều cư trú tại: Thôn T K, xã N M, thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Trương Văn H (vắng mặt).

Người giám hộ cho bị đơn ông Trương Văn H là bà Nguyễn Thị N (vợ ông H) (có mặt).

Đều cư trú tại: Thôn T K, xã N M, thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị C; cư trú tại: Thôn T K, xã N M, thị xã A, tỉnh Bình Định (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Tạ Thành S – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Tạ Thành S trình bày:

Nhà ông và nhà ông Trương Văn H, bà Nguyễn Thị N ở gần nhau,  truớc đây hai bên có mâu thuẫn từ việc xây dựng hàng rào. Khoảng 14 giờ ngày 11.7.2016 ông đang cho heo ăn thì bị cát bay vào mắt. Đang loay hoay thì thấy cháu Trương Ngọc A (cháu ông H) đang chơi ở bên nhà ông H nên ông qua phần đất nhà ông H nhờ cháu A lấy bụi giúp. Khi cháu A đang lấy bụi thì ông H đứng phía sau lưng ông dùng rựa chém ông một nhát vào cổ, một nhát vào vành tai phải sướt qua má phải và một nhát vào phần giữa lưng dưới. Lúc bị ông H dùng rựa chém, ông không nhìn thấy ông H nên sau khi bị chặt 03 nhát, ông ngã xuống và nghe cháu A la lên còn ông H bỏ vào nhà.

Sau khi bị ông H gây thương tích, ông phải điều trị tại Trung tâm y tế thị xã A sau đó chuyển vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định; thời gian điều trị 40 ngày, tổng chi phí là 40.329.215 đồng (có bảng kê chứng từ), kết quả giám định tổn thương sức khỏe là 13%. Ông yêu cầu bà Nguyễn Thị N (vợ ông H) phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông 40.329.215 đồng vì ông H bị bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức.

Bà Nguyễn Thị N là người giám hộ cho ông Trương Văn H trình bày:

Bà là vợ ông Trương Văn H. Ông H bị bệnh tâm thần đã được cấp sổ nhưng ông H ở nhà điều trị, gia đình thay phiên nhau trông chừng. Sự việc ông H dùng rựa chém ông S bà không biết vì lúc đó bà không có mặt ở nhà. Sau khi sự việc xảy ra, bà có gửi cho ông S 6.000.000 đồng nhưng ông S không chịu nhận. Tại Công an thị xã A, bà cũng đề nghị hỗ trợ cho ông S 10.000.000 đồng nhưng ông S vẫn không nhận. Nay ông S yêu cầu bà bồi thường cho ông số tiề 40.329.215 đồng bà không đồng ý mà chỉ chấp nhận bồi thường toàn bộ tiền thuốc và chi phí điều trị trong thời gian ông S điều trị tại Trung tâm y tế thị xã A từ ngày 11.7.2016 đến ngày 19.7.2016 (09 ngày).

Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2018/DS-ST ngày 18.5.2018 của Tòa án nhân dân thị xã A đã xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Tạ Thành S.

- Buộc bà Nguyễn Thị N là người giám hộ cho ông Trương Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Tạ Thành S số tiền 13.882.765 đồng.

Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018  nguyên đơn ông Tạ Thành S kháng cáo yêu cầu xem xét buộc bị đơn phải bồi thường cho ông tiền bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị; yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian 04 tháng x 3.600.000 đồng/tháng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị sửa bản án sơ thẩm buộc bà N phải bồi thường cho ông S 34.411.765 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chiều ngày 11.7.2016 ông Tạ Thành S bị ông Trương Văn H dùng rựa chém gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích gây ra là 13%. Tại thời điểm gây án, ông Trương Văn H bị mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A ra Quyết định số 01 ngày 28.02.2017 đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Ông Tạ Thành S khởi kiện vụ án dân sự về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị N (vợ ông H) là người giám hộ cho ông H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông S là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ông S yêu cầu bà N phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông với tổng chi phí là 40.329.215 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc bà N bồi thường cho ông S 13.882.765 đồng, bao gồm các khoản: Chi phí điều trị theo hóa đơn và thuốc mua theo toa; chi phí đi, về chuyển viện, tái khám; tiền công mất thu nhập cho người bệnh và người chăm sóc và bồi thường tổn thất tinh thần... Xét thấy, mức bồi thường mà tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N – người giám hộ cho ông H phải bồi thường cho ông S là chưa thỏa đáng với thiệt hại của ông S, bởi lẽ: Ông S bị ông H dùng rựa chém vào vùng gáy, tai và lưng là những vị trí nguy hiểm trên cơ thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng. Theo chứng nhận thương tích của Trung tâm y tế thị xã A thì tình trạng sức khỏe của ông S lúc cấp cứu: Bệnh nhân bị đa vết thương phức tạp, vết thương rách da cơ vùng cổ gáy dài 07 cm, máu chảy nhiều, vết thương rách da sụn vành tai phải kéo dài xuống vùng cổ gáy và qua một phần má phải dài 25 cm để lộ cơ thang, máu chảy nhiều; vùng lưng ngang cột sống đoạn DXII-LI  có vết xước da dài 05cm, huyết áp tăng 160/80mmHg. Như vậy, thương tích của ông S do ông H gây ra là nghiêm trọng, ông S phải điều trị trong thời gian dài nên việc ông S kháng cáo yêu cầu bồi thường về bồi dưỡng sức khỏe với số tiền 9.729.000 đồng là có cơ sở.

Ông S còn kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường về ngày công lao động bị mất trong thời gian 04 tháng với số tiền 3.600.000 đồng/tháng x 04 tháng = 14.400.000 đồng. Xét kháng cáo của ông S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi ra viện, sức khỏe của ông S chưa phục hồi hẳn nên không thể lao động nặng được trong khi ông S là lao động chính trong gia đình vì vậy yêu cầu của ông S là có cơ sở nên được chấp nhận.

Như vậy, ngoài mức bồi thường 13.882.765 đồng mà tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N người giám hộ của ông H phải bồi thường cho ông S thì bà N còn phải  bồi  thường  cho  ông  S  24.129.000  đồng  (9.729.000  đồng  +14.400.000 đồng), tổng cộng bà N phải bồi thường cho ông S 38.011.765 đồng.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bà Nh được miễn nộp (người cao tuổi).

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ông Tạ Thành S không phải chịu.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của ông Tạ Thành S; Sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm d, đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận kháng cáo của ông Tạ Thành S; Sửa bản án sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn Thị N là người giám hộ cho ông Trương Văn H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Tạ Thành S  38.011.765 đồng (ba mươi tám triệu không trăm mười một ngàn bảy trăm sáu lăm đồng).

Kể từ ngày ông Tạ Thành S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì bà Nguyễn Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm:  Bà Nguyễn Thị N được miễn nộp.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tạ Thành S không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hội đồng xét xử không giải quyết có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


99
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về