Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diệu G, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: ấp A2, xã MA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Ngọc D, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã MA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Diệu G trình bày:

Vào năm 2014 chị G và anh Đoàn Ngọc D kết hôn có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã MA ngày 03/12/2015, theo giấy chứng nhận kết hôn số 73/2015, quyển số 01/2015. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/11/2015, hiện cháu đang sống chung với chị G.

Sau khi cưới chị G và anh D chung sống hạnh phúc một thời gian, đến khoảng tháng 6/2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn thường xuyên gây cải do bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng, nên chị G đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai.

Nay chị G nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị G yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Ngọc D.

- Về con chung: Chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đoàn Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/11/2015, không yêu cầu anh Đoàn Ngọc D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn anh Đoàn Ngọc D biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị G. Nhưng anh D không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải các ngày 22/3/2019, 18/4/2019, phiên tòa ngày 10/6/2019 và phiên toà hôm nay. Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ.

Taïi phiên tòa hoâm nay: Nguyên đơn vẫn bảo lưu yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn Đoàn Ngọc D có nơi cư trú tại xã MA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn anh D đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh D là đúng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa chị G và anh D chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MA ngày 03/12/2015, theo giấy chứng nhận kết hôn số 73/2015, quyển số 01/2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị G và anh D là hợp pháp. Xét, việc chị G cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai người không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên chị G đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị G yêu cầu được ly hôn với anh D là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con chung: Xét; từ khi chị G và anh D ly thân đến nay thì cháu Đoàn Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/11/2015 do chị G nuôi dưỡng. Vì vậy, xét việc chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Gia Bảo, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Diệu G và anh Đoàn Ngọc D.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đoàn Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/11/2015 cho nguyên đơn Nguyễn Diệu G tiếp tục nuôi dưỡng, bị đơn Đoàn Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Diệu G phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M theo lai thu số: 0006891, ngày 04/3/2019. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mang Thít - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về