Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 05/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 711/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993; nơi thường trú: tổ 10, ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi tạm trú: nhà trọ T1, số 282/1 khu phố 1B, phường A, thị xã H, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Thanh X, sinh năm 1987; nơi thường trú: tổ 10, ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi tạm trú: nhà trọ D, số 72/3C khu phố BĐ, phường BH, thị xã H, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Thanh X tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 03/2011, quyển số 02/2011, ngày 10 tháng 01 năm 2011.

Sau khi kết hôn, bà N và ông X vào Bình Dương sinh sống và làm công nhân. Thời gian đầu bà N và ông X chung sống rất hạnh phúc cho đến năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông X thường xuyên kiếm chuyện và to tiếng với bà N, ngoài ra ông X không phụ giúp bà N trong việc chăm sóc con cái cũng như phụ giúp tài chính trong gia đình. Mâu thuẫn giữa bà và ông X trầm trọng nên bà đã từng nộp đơn khởi kiện tại Tòa án tuy nhiên được sự vận động hòa giải nên bà rút đơn khởi kiện và cho ông X cơ hội để vợ chồng đoàn tụ. Bà N và ông X sống ly thân và không còn sống chung một nhà từ tháng 04 năm 2019 cho đến nay, tuy nhiên trong thời gian sống ly thân cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông X vẫn không thay đổi. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông X.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông X có một con chung tên Bùi Nguyễn Bảo G, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010, bà N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn do bị đơn thường xuyên vắng nhà. Theo kết quả xác minh tại Công an phường BH, thị xã H, tỉnh Bình Dương: Ông X có đăng ký tạm trú tại nhà trọ D, số 72/3C khu phố BĐ, phường BH, thị xã H, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông X theo hình thức niêm yết công khai tại nơi tạm trú của ông X, Ủy ban nhân dân phường BH, thị xã H, tỉnh Bình Dương và trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nhưng ông X không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà N và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà N có đơn xét xử vắng mặt vào ngày mở phiên tòa lần thứ hai tuy nhiên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: bà N được ly hôn với ông X; về con chung: giao con chung tên Bùi Nguyễn Bảo G, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận định:

[2] Về tố tụng:

Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông X; ông X có nơi tạm trú tại phường BH, thị xã H, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đi với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng vẫn vắng mặt, cố tình không đến Tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, sau đó nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bà N và ông X theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông X kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 01 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Hi đồng xét xử xét thấy: Mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông X chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, ông X đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án nên xem như ông đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng chứng tỏ ông X không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Hơn nữa, bà N đã từng nộp đơn khởi kiện tại Tòa án tuy nhiên muốn vợ chồng đoàn tụ nên bà đã rút đơn khởi kiện nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi, bà N và ông X đã ly thân và không còn sống chung một nhà từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay, như vậy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau.

Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà N và ông X đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N yêu cầu được ly hôn với ông X là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà N và ông X có một người con chung tên Bùi Nguyễn Bảo G, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010. Trong quá trình giải quyết vụ án bà N vẫn giữ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu G hiện đang sống chung với bà N và có nguyện vọng sống chung với mẹ, ngoài ra cháu cần được sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục từ mẹ. Mặt khác, bà N có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên giao cháu G cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N về việc không yêu cầu ông Bùi Thanh X cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn ông Bùi Thanh X về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Bùi Thanh X.

- Về con chung: Giao con chung Bùi Nguyễn Bảo G, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N về việc không yêu cầu ông Bùi Thanh X cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0035337 ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 05/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về