Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 18/07/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 169/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2019/QĐ-HPT ngày 04/7/2019giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị M – sinh ngày 12/12/1994.

Địa chỉ: xóm 7, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: Làm ruộng (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Văn H - sinh ngày 25/7/1989.

Địa chỉ: xóm 7, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: Làm ruộng (Vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị M và anh Trần Văn H người cùng xóm với nhau, sau một thời gian tìm hiểu thì hai bên quyết định tiến tới hôn nhân chị M, anh H chị đã đến UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An làm thủ tục đăng ký kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2017, ngày 02/2/2017. Sau khi đăng ký kết hôn chị M anh H chưa tổ chức cưới hỏi, chị M vào miền nam làm công nhân cho công ty đóng trên địa bàn, anh H đi làm ăn tại miền bắc, chị M và anh H dự kiến sẽ tổ chức cưới hỏi vào một thời gian hợp lý tại miền nam nơi chị M làm việc. Quá trình trao đổi bàn bạc chị M, anh H thống nhất sẽ tổ chức lễ cưới vào ngày 16/10/2017, chị M, gia đình chị M đã chủ động lo liệu mọi việc, chuẩn bị cho việc cưới hỏi sắp tới, chỉ chờ đến ngày anh H và phía gia đình anh H vào miền nam là thực hiện lễ cưới hỏi ngay. Trước khi cưới chị M đã gọi đ iện cho anh H, phía gia đình anh H, nhưng anh H, gia đình anh H trả lời không cưới hỏi nữa, chị M và gia đình chị M hỏi lý do thì anh H, phía gia đình anh H đã đưa ra lý do này lý do khác, không chấp nhận lễ cưới giữa chị M và anh H. Kể từ đó chị M, anh H và hai gia đình đều chấm dứt liên lạc, không quan tâm tới nhau nữa, chị M thấy hôn nhân giữa chị và anh H đã đổ vỡ không thể hàn gắn chị đã mất hết tình cảm, tình yêu đối với anh Trần Văn H, chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn H.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Mai không yêu cầu tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Văn H, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ, yêu cầu chị M, anh H có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh H không hợp tác để giải quyết, cố tình vắng mặt, do đó Tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai, trình bày của anh để lưu tại hồ sơ. Song qua các tài liệu, chứng cứ do chị M cung cấp thì về quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh H cơ bản đúng như chị Đinh Thị M trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

-Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện qui định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Đinh Thị M, anh Trần Văn H, yêu cầu chị M, anh H có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng anh H không chấp hành, không hợp tác. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn chị Đinh Thị M có mặt, bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa trong đó ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho chị M, anh H. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn chị M có mặt, bị đơn anh H tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Trần Văn H.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Đinh Thị M và anh Trần Văn H đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hôn nhân giữa chị M và anh H là hoàn toàn tự nguyện. Mặc dù anh chị chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục, nhưng anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2017, ngày 02/2/2017 nên hôn nhân giữa chị Đ inh Thị M và anh Trần Văn H là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn giữa chị M và anh H chủ yếu là do hai bên tìm hiểu không kỷ càng, nóng vội tiến tới hôn nhân, không hiểu hết tính cách, lối sống của nhau dẫn đến hôn đỗ vỡ khi hai bên chưa tổ chức cưới hỏi. Sau khi lễ cưới hỏi không thành, các bên không hề níu kéo hôn nhân, đ iều đó cho thấy hôn nhân giữa chị M và anh H đã hoàn toàn đổ vỡ, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được như mong muốn của các bên. Chị Đinh Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn H là có căn cứ, cần xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên miễn xét

- Về quan hệ tài sản: Chị Đ inh Thị M không yêu cầu tòa giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Buộc chị Đ inh Thị M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chị Đinh Thị M được ly hôn anh Trần Văn H.

2. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Đinh Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được tính trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số: 0003648 ngày 11/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, Nghệ An, chị Đ inh Thị M đã nộp đủ án phí.

3.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã H, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 18/07/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về