Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 31/10/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 350/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2019, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị C, sinh năm: 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm: 1975 (Vắng mặt có lý do)

Địa chỉ: ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Huỳnh Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà tự nguyện kết hôn với ông Phạm Ngọc T vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà C yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: vợ chồng có 02 con tên Phạm Minh T1, sinh năm 2000 và Phạm Thanh P, sinh ngày 04/10/2007. Khi ly hôn tùy theo nguyện vọng của con chưa trưởng thành theo ai thì người ấy nuôi. Nếu con theo bà C thì bà C đồng ý nuôi và bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa T1 nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án,bị đơn ông Phạm Ngọc T trình bày: Ông T thống nhất với bà C về quan hệ hôn nhân và con chung. Nay ông T đồng ý ly hôn với bà C vì xác định không còn tình cảm gì với bà C. Về con chung: đồng ý giao con chung chưa thành niên tên Phạm Thanh P, sinh ngày 04/10/2007 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc theo nguyện vọng của cháu P.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa T1 nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội thẩm nhân dân tuân thủ quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị C.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc T

- Về con: Giao con chung tên Phạm Thanh P, sinh ngày 04/10/2007 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh yêu cầu ly hôn với ông Phạm Ngọc T, yêu cầu của bà C được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T cư trú tại xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có ý kiến xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1979 và ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1975 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2000 tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vì vậy, về quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà C và ông T xác định vợ chồng có mâu thuẫn, hiện bà C và ông T xác định không còn tình cảm với nhau, đồng thời ông T cũng đồng ý hôn với bà C. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông T đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C.

Về con: Do con chung tên Phạm Thanh P, sinh ngày 04/10/2007 có nguyện vọng được sống chung với bà C và ông T cũng đồng ý giao con cho bà C nuôi dưỡng, nên để đảm bảo sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần cho con chưa thành niên thì cần giao con cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc theo nguyện vọng của con là phù hợp.

Bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà C phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc T.

- Về con: Giao con chung tên Phạm Thanh P, sinh ngày 04/10/2007 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2/ Về án phí: Bà Huỳnh Thị C phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000325 ngày 01/7/2019.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 31/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về