Bản án 55/2019/HS-ST ngày 24/07/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BN ÁN 55/2019/HS-ST NGÀY 24/07/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

LÊ TRƯỜNG G, sinh năm 1990 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn G, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T, sinh năm 1962 và bà: Lê Thị H, sinh năm 1962; chưa có vợ, con. Tin án, tiền sự: Không Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt) - Bị hại: Anh Trần Hồng Th, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Khu phố 3, phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có hẹn gặp nhau để mua bán xe từ trước nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/3/2019, Lê Trường G đến trước khu vực Bến xe khách tỉnh Ninh Thuận, thuộc thôn T, xã Th, thành phố Pđể gặp anh Trần Hồng Th (sinh năm: 2000, HKTT: Khu phố 3, phường K, thành phố P). Sau khi hai bên gặp nhau và thỏa thuận giá, anh Th giao xe môtô hiệu Yamaha màu đen, biển số 51T5-4012 cho G kiểm tra xe và chạy thử. Nhận được xe từ anh Th, G điều khiển xe chạy thử, chạy được một đoạn, G nảy sinh ý định chiếm đoạt xe môtô trên nên điều khiển xe chạy thẳng về nhà G ở thôn G, xã C, huyện T để cất giấu. Đến ngày 29/3/2019, do nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên G đem xe môtô trên đến Công an thành phố P để trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Ti Bản kết luận định giá tài sản số 31/KLTS ngày 05/4/2019, kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha màu đen, BKS 51T5-4012, số khung JJD705XC-590877, số máy ZY154M-9900936 có giá trị 12.500.000 đồng.

Qua xác minh nguồn gốc chiếc xe mô tô biển số 51T5-4012 do anh Phạm Như B (sinh năm: 1973, HKTT: Số X Lê Qang Đ, Quận B, TP.Hồ Chí Minh) đứng tên trên Giấy đăng ký xe. Anh Th khai nhận đã mua lại xe môtô trên từ anh B nhưng hai bên không làm giấy tờ mua bán, người bán chỉ giao lại Giấy đăng ký xe cho anh. Ngày 22/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pđã gửi ủy thác điều tra yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận B, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành làm việc với anh B. Tuy nhiên, qua xác minh, anh B hiện không còn cư trú ở địa chỉ này từ năm 2011 đến nay. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã thông báo tìm người liên quan để xác định chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng đến nay chưa có kết quả.

Vt chứng của vụ án: 01 xe môtô Yamaha màu đen, BKS 51T5-4012, số khung JJD705XC-590877, số máy ZY154M-9900936 hiện chưa xác định được chủ sở hữu.

Ti Cáo trạng số 60/CT-VKS-PRTC ngày 24/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Trường G về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 ).

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Trường G từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách;

- Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Yamaha màu đen, BKS 51T5-4012, số khung JJD705XC-590877, số máy ZY154M-9900936 hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Đề nghị tiếp tục tạm giữ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Bị hại anh Trần Hồng Th trình bày: Tại phiên tòa, anh Th yêu cầu được nhận lại xe, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trường G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đủ cơ sở để xác định: Do có hẹn gặp nhau để mua bán xe từ trước nên vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/3/2019, Lê Trường G đã đến trước khu vực Bến xe khách tỉnh Ninh Thuận để gặp anh Trần Hồng Th. Sau khi gặp nhau và thỏa thuận giá, anh Trần Hồng Th giao xe môtô hiệu Yamaha màu đen, biển số 51T5-4012 cho Lê Trường G chạy thử. Có được xe từ anh Th giao, G nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe chạy thẳng về nhà ở thôn G, xã C, huyện Tđể cất giấu. Đến ngày 29/3/2019, G đến cơ quan Công an trình diện và giao nộp xe môtô đã chiếm đoạt. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tố tụng hình sự thì giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.500.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Lê Trường G về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[2.3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Bị cáo tự nguyện ra đầu thú; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; Đối chiếu các quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì trường hợp của bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự thì cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại anh Trần Hồng Th không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa, anh Trần Hồng Th có yêu cầu được nhận lại tài sản. Tuy nhiên hiện nay chiếc xe môtô hiệu Yamaha màu đen, BKS 51T5-4012, số khung JJD705XC-590877, số máy ZY154M-9900936 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pthông báo tìm kiếm người liên quan để xác định chủ sở hữu chiếc xe nhưng chưa có kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ptạm giữ chiếc xe, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[3] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Lê Trường G, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 175; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trường G 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/7/2019).

Giao bị cáo Lê Trường G cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận là nơi bị cáo thường trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp nhận hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ptiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha màu đen, BKS 51T5-4012, số khung JJD705XC- 590877, số máy ZY154M-9900936, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Trường G phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo) 


16
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về