Bản án 55/2019/HSST ngày 27/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 55/2019/HSST NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/HSST ngày 04 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T - tên gọi khác: không; giới tính: Nam

Sinh ngày 10/10/1988 tại Bảo Thắng, Lào Cai

Cư trú: Tổ 01, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngô T (đã chết) và bà Trần Thúy H, sinh năm 1951; có vợ Đinh Thị Quý, sinh năm 1995; cư trú tại tổ 01, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai - có mặt

* Người chứng kiến:

Anh Lưu Quốc K; Địa chỉ: Tổ 15, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.

Anh Lê Văn C; Địa chỉ: Tổ 02, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 10/5/2019 tại số nhà 046, đường Nguyễn Tri Phương thuộc tổ 01, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, Tổ công tác Công an phường Phố Mới, thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ thì phát hiện và bắt quả tang đối với Trần Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Trên mặt bàn 01 gói giấy bạc mầu trắng, bên trong chứa chất bột khô mầu trắng, trên mặt ghế đệm da ở góc phòng 02 túi ni lon mầu trắng, bên trong đều chứa các hạt tinh thể rắn mầu trắng. Tại túi quần sóoc bên trái Trọng đang mặc 01 túi ni lon mầu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn mầu trắng và 01 túi ni lon mầu trắng, bên trong đựng 05 gói giấy bạc mầu trắng và 02 gói giấy bạc mầu vàng, bên trong các gói này đều chứa chất bột khô, mầu trắng, vón cục .T khai nhận toàn bộ số vật chứng thu giữ trên đều là là ma túy đá và Heroine của T. Tại biên bản mở niên phong và giao nhận đối đượng giám định hồi 16 giờ 45 phút ngày 15/5/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Lào Cai và phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định: Niêm phong còn nguyên vẹn:

- Bì M1: 01 gói giấy bạc mầu trắng, bên trong chứa chất bột khô, mầu trắng, vón cục. Ký hiệu là mẫu M1. Khối lượng là 0,18 gam. Trích mẫu giám định 0,05 gam, còn 0,13 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

- Bì M2: 02 túi ni lon mầu trắng được miết kín một đầu, bên trong đều chứa các hạt tinh thể rắn, mầu trắng. Ký hiệu là mẫu M2. Khối lượng là 0,43 gam. Trích mẫu giám định 0,12 gam, còn 0,31 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

- Bì M3: 01 túi ni lon mầu trắng được miết kín một đầu, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, mầu trắng. Ký hiệu là mẫu M3. Khối lượng là 0,15 gam. Trích mẫu giám định 0,09 gam, còn 0,06 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

- Bì M4: 01 túi ni lon mầu trắng được miết kín một đầu, bên trong đựng 05 gói giấy bạc mầu trắng và 02 gói giấy bạc mầu vàng, bên trong đều chứa chất bột khô, mầu trắng, vón cục. Ký hiệu là mẫu M4. Khối lượng là 1,01 gam. Trích mẫu giám định 0,26 gam, còn 0,75 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu (Bút lục 11).

Kết luận giám định số 128/GĐMT ngày 17/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận toàn bộ số vật chứng thu giữ được của Trần Văn T, kết quả cụ thể như sau:

Mẫu M1: 0,18 gam là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin); Mẫu M2: 0,43 gam là loại chất ma túy Methamphetamine; Mẫu M3: 0,15 gam là loại chất ma túy Methamphetamine; Mẫu M4: 1,01 gam là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 02/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 1,19 gam Heroine (Hêrôin) và 0,58 (không phẩy năm mươi tám) gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung “Phạt tiền” đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,88 (không phẩy tám mươi tám) gam Heroine (Hêrôin) và 0,37 (không phẩy ba mươi bẩy) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong.

Ngoài ra, còn đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiển sát viên Viện kiển sát nhân dân thành phố Lào Cai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/5/2019, bị cáo bắt xe tắc xi đi từ nhà đến khu vực gầm Cầu Chui thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tới nơi, bị cáo thấy một người nam tên Tùng đang đứng ở ven đường, bị cáo đi lại gần và hỏi, anh còn hàng không? Tùng trả lời, lấy bao nhiêu, Bị cáo bảo lấy 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và đưa tiền cho Tùng và nói lấy cho em Hê và đá mỗi loại một nửa.Tùng cầm tiền và đi xe về hướng Bản Phiệt khoảng 05 phút sau thì quay lại và nói với bị cáo, anh để trong bao 3 số, ở đầu giải phân cách, đoạn ngã tư hướng đi xã Bản Phiệt, rồi đi luôn. Sau đó, bị cáo đi bộ về hướng Bản Phiệt khoảng 200 mét thì đến ngã tư, bị cáo nhìn thấy một vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu 555, bị cáo mở ra xem thấy bên trong có ma túy liền cất vào túi quần sóoc bên phải đang mặc rồi đi bộ về phía gầm cầu chui bắt xe ôm đi về nhà, đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo về đến nhà vào phòng thứ 3 bỏ ma túy ra thấy có 03 gói ma túy đá và 01 túi ni lon mầu trắng miết kín một đầu, bên trong đựng tám gói Heroine. Bị cáo vứt bỏ bao thuốc lá 3 số vào thùng rác, rồi lấy một gói ma túy Heroine để trên mặt bàn uống nước trong phòng và cất túi ni lon mầu trắng đựng 07 gói ma túy Heroine còn lại vào túi quần sóoc bên phải đang mặc rồi tiếp tục để 02 gói ma túy đá lên mặt ghế da trong phòng, gói ma túy đá còn lại, bị cáo đang cầm trên tay thì có người gọi cửa, bị cáo để gói ma túy đá này vào trong túi quần sóoc bên trái đang mặc rồi đi ra mở cửa thì thấy Lưu Quốc K là thợ xăm nghệ thuật đến để xăm lông mày cho chị gái của bị cáo. Bị cáo bảo K vào ngồi đợi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo và Lưu Quốc K đang ngồi uống nước thì bị Tổ công tác Công an phường Phố Mới kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận ngày ngày 10/5/2019 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 1,19 gam Heroine (Hêrôin) và 0,58( không phẩy năm mươi tám) gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vì nghiện chất ma túy, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, để có ma túy sử dụng bị cáo đã coi thường pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước ta, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi phạm tội trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:“ Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc cấm làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản riêng.Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã thu giữ của bị cáo 1,19 gam Heroine (Hêrôin) và 0,58( không phẩy năm mươi tám) gam Methamphetam ine; Cơ quan giám định đã trích mẫu để tiến hành giám định. Số vật chứng còn lại 0,88( không phẩy tám mươi tám) gam Heroine (Hêrôin) và 0,37( không phẩy ba mươi bẩy) gam Methamphetamine được tái niêm phong hoàn lại cơ quan trưng cầu. Đây là chất ma tuý nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo 11/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,88( không phẩy tám mươi tám) gam Heroine (Hêrôin) và 0,37( không phẩy ba mươi bẩy) gam Methamphetamine được tái niêm phong theo quy định bằng bì thư in sẵn, trên một mặt bì thư có ghi: Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Trần Văn T có hành vi phạm tội về ma túy, phát hiện (thu giữ) ngày 10/5/2019 tại tổ 01, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2019)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự" .


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HSST ngày 27/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:55/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về