Bản án 555/2018/HNGĐ-ST ngày 07/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 555/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/05/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 07 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2017/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1311/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2835/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1993 (xin vắng mặt). Địa chỉ: 146/10/2 V, Phường 2, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Huang Chiu P, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).

Địa chỉ: 70 Hòa Bình, khóm 010, phường Vĩnh Huệ, khu Vĩnh An, Thành phố Cao Hùng, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 03/6/2017 và Bản tự khai ngày 04/7/2017 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Huang Chiu P đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/8/2012 vào Sổ đăng ký kết hôn số 2476 Quyển số 13 ngày 10/9/2012. Sau khi kết hôn, bà và ông Huang Chiu P chung sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 02/2013 thì bà và ông Huang Chiu P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông Huang Chiu P trở về Đài Loan, bà ở lại Việt Nam, hai bên ít liên lạc với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Huang Chiu P.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà xin được vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.

Ông Huang Chiu P được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các thủ tục tống đạt triệu tập đương sự hợp lệ theo quy định nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị M khai không còn tình cảm với ông Huang Chiu P, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị M có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Nguyễn Thị M khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị M.

Đối với ông Huang Chiu P, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho ông Huang Chiu P theo quy định pháp luật nhưng đương sự vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Huang Chiu P.

Về nội đung:

 [1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị M và ông Huang Chiu P tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/8/2012 vào Sổ đăng ký kết hôn số 2476 Quyển số 13 ngày 10/9/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Huang Chiu P định cư ở Đài Loan. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không quan tâm nhau. Nay bà Nguyễn Thị M xác nhận không còn tình cảm với ông Huang Chiu P nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, về phía ông Huang Chiu P đã được Tòa án ủy thác tư pháp thông báo yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị M và ngày, giờ đưa vụ án ra xét xử nhưng không nhận được trả lời của ông Huang Chiu P. Điều này cho thấy ông Huang Chiu P không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà Mỹ, như vậy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Nguyễn Thị M xin ly hôn ông Huang Chiu P là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị M khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

 [3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị M khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

 [4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị M là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị M và ông Huang Chiu P.

2. Về con chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết

5. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị M chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2016/0034444 ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 555/2018/HNGĐ-ST ngày 07/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:555/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về