Bản án 560/2018/HC-PT ngày 20/12/2018 về khiếu kiện hủy quyết định hành chính thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 560/2018/HC-PT NGÀY 20/12/2018 VỀ KHIẾU KIỆN HỦY QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 20 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 348/2017/TLPT-HC ngày 27 tháng 10 năm 2017 về việc “Khiếu kiện hủy quyết định hành chính thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 70/2017/HCST ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1870/2018/QĐPT-HCngày 03 tháng 12 năm 201 8 , giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Lê Hoàng L (vắng mặt). Cư trú tại: Ấp 4, xã LH, huyện CG, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Kim Ph (có mặt).

Cư trú tại: Ấp 4, xã LH, huyện CG, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 26/6/2017).

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện CG, tỉnh Long An.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Anh Đ (vắng mặt). Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CG, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 26/7/2017).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đào Văn H (có mặt).

2. Bà Huỳnh Thị Kim Ph (có mặt).

Ông H và bà Ph cùng cư trú tại: Ấp 4, xã LH, huyện CG, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Đào Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người khởi kiện, ông Lê Hoàng L trình bày: Diện tích 350m2 thuộc thửa 06, tờ bản đồ số 05 có nguồn gốc của ông Lê Văn T (cha của ông L) sử dụng và đứng tên trên sổ mục kê từ năm 1975. Năm 1993, ông T cho ông L phần đất trên.

Ông L đã sử dụng đến năm 1998 thì múc đất thửa 06 để làm nhà ở nên thửa 06 thành ao trũng. Ông L đã kê khai đăng ký và được UBND huyện CG cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận) năm 2007. Ông Đào Văn H hỏi xin thả cá nên ông L đồng ý. Do Ông H muốn chiếm ao nên phát sinh tranh chấp và khi hoà giải tại UBND xã thì Ông H có thỏa thuận nếu ông L chuyển nhượng ao thì Ông H sẽ trả ông L 60.000.000 đồng nhưng ông L không đồng ý. Tuy nhiên, việc tranh chấp chưa được giải quyết thì ngày 09/6/2017, UBND huyện CG lại ban hành Quyết định 8469/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận của ông L là trái pháp luật. Do đó, ông L khởi kiện yêu cầu hủy quyết định 8469/QĐ-UBND nêu trên.

Người bị kiện, Ủy ban nhân dân huyện CG trình bày: Nguồn gốc diện tích 350m2 là của Ông H mua của ông Lê Văn Ng từ năm 1979 và sử dụng trồng lúa. Sau đó, Ông H đào ao nuôi cá cho đến nay. Khi cấp giấy chứng nhận cho ông L, UBND huyện đã không xác minh thực tế người sử dụng là không đúng thủ tục quy định của pháp luật, ảnh hưởng quyền lợi của Ông H. Do đó, căn cứ kết luận của Thanh Tra huyện, UBND huyện CG ban hành Quyết định 8469/QĐ-UBND thu hồigiấy chứng nhận đã cấp cho ông L ngày 01/3/2007 là đúng pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, bà Huỳnh Thị Kim Ph trình bày: Bà Ph là vợ của ông L, thống nhất nội dung trình bày của ông L.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, ông Đào Văn H trình bày: Diện tích 350m2 do Ông H mua của ông Ng và sử dụng từ năm 1984 đến nay. Phần đất này trước đây Ông H trồng lúa nhưng do năng suất thấp nên đã chuyển sang nuôi cá. Ông H là người sử dụng đất nên việc UBND huyện CG ban hành Quyết định 8469/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận của ông L là phù hợp.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 70/2017/HCST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Căn cứ Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 106, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng L về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của UBND huyện CG.

- Huỷ Quyết định số 8469/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện CG về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00314 ngày 01/3/2007 của ông Lê Hoàng L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 20/9/2017, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Đào Văn H kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, người kháng cáo là Ông H trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp do Ông H mua của ông Ng và sử dụng ổn định, liên tục đến nay. UBND huyện CG cấp giấy chứng nhận cho ông L là không đúng nên đã bị thu hồi tại Quyết định số 8469/QĐ-UBND. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm hủy Quyết định số 8469/QĐ-UBND nêu trên là không đúng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của ông L.

Đại diện ủy quyền của ông L trình bày: Đất tranh chấp có nguồn gốc do gia tộc ông L để lại. Ông L sử dụng đến khoảng năm 1988 thì cho Ông H mượn để thả cá. Việc cho mượn không lập văn bản, cũng không ấn định thời gian trả. UBND huyện CG thu hồi giấy chứng nhận của ông L là trái pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Giữa ông L và Ông H có tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp thì ông L đã được cấp giấy chứng nhận nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc UBND huyện CG giải quyết tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Ông Lê Hoàng L khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 8469/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện CG nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015. Kháng cáo của Ông H đúng pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

 [2] Xét Quyết định số 8469/QĐ-UBND, thấy rằng:

 [2.1] Hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 01/3/2007, UBND huyện CG cấp giấy chứng nhận số H00314 cho ông L đối với diện tích 350m2 thuộc thửa số 6, tờ bảnđồ số 5, tại xã LH, huyện CG. Tại Kết luận thanh tra số 564/KL-TTr ngày13/12/2016 của Thanh tra huyện CG về việc Thẩm tra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nội dung: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L là không đúng quy định pháp luật. Ngày 09/6/2017, UBND huyện CG ban hành Quyết định số 8469/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có nội dung tại Điều 1: Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00314 do UBND huyện CG cấp ngày 01/3/2007 cho ông L; Giao cho UBND xã LH xét và đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật.

 [2.2] Như vậy, căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 105, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì Quyết định số 8469/QĐ-UBND là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Quyết định số 8469/QĐ-UBND là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa các đương sự nên đã hủy quyết định nêu trên là không chính xác.

 [3] Vì vậy, kháng cáo của Ông H là có căn cứ chấp nhận, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm. Ông H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 241; Điều 30; 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015; Khoản 2 Điều 105; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn H.

2. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 70/2017/HCST ngày 15/9/2017 củaTòa án nhân dân tỉnh Long An.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng L về việc yêu cầu hủy Quyết định số 8469/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện CG, tỉnh Long An về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00314 ngày 01/3/2007 của ông Lê Hoàng L.

4. Chi phí thẩm định xem xét tại chỗ là 1.800.000 đồng, ông Lê Hoàng L tự nguyện nộp và đã nộp xong.

5. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Ông Lê Hoàng L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu số 0009597 ngày 04/7/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An, ông L đã nộp đủ.

Án phí phúc thẩm: Ông Đào Văn H không phải chịu và được hoàn lại300.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu số 0009854 ngày 26/9/2017 củaCục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng12 năm 2018)./.


40
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về